vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Danh Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Danh Ngọc G 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2023). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh Ngọc G phạm tọi Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 24-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Danh Ngọc G, sinh ngày 01/01/1997, nơi sinh: Gò Quao – Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp AT, xã ĐA, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang; CMND số: 371905917; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh C và bà Thị Đ, vợ là Thị L và 03 con sinh, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 43 ngày 19/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao, có mặt.

Bị hại: Anh Trần Tấn Đ1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp BH1, xã MK, thành phố LX, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt

Người làm chứng: Anh Huỳnh Công Đ2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp AT, xã ĐA, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 12/9/2022, Danh Ngọc G sau khi đẩy côn bắt cá xong thì bơi xuồng một mình về nhà. Trên đường về đến đoạn sông Ba Trọng thuộc ấp An Trường, xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang thì nhìn thấy một chẹt gỗ của anh Trần Tấn Đ1 đậu dưới sông không người trông coi nên G nảy sinh ý định trộm cắp tài sản mang về nhà sử dụng, lúc này G bơi xuồng cặp vào chẹt. Sau đó G leo lên chẹt, đi lại chổ cabin, rồi mở nắp hầm lên thì nhìn thấy hai bình ắc quy (một lớn, một nhỏ) để cặp bên. G mới lấy bình ắc NS60L12V 45 AMPE nhãn hiệu Đồng Nai, thân bình màu trắng, mặt trên của bình màu đen mang xuống xuồng. Sau đó quay trở lại tiếp tục lấy bình ắc quy 220 AMPE nhãn hiệu ENIMEC màu đen, nút bình màu đỏ. Do bình bị khóa lại bằng sợi dây xích với tay cầm, nên G lấy cây dao để cặp bên bình chặt vào tay cầm, làm tay cầm của bình bị gãy. G lấy ra khỏi hầm và mang xuống xuồng bơi về nhà sử dụng. Đến ngày 22/9/2022 anh Huỳnh Công Đ2 phát hiện nên đã trình báo sự việc trên. Cơ quan Công an mời Danh Ngọc G về làm việc và Danh Ngọc G thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp lại tài sản đã lấy trộm.

* Tại bản kết luận giám định số 18/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Gò Quao kết luận:

- Một bình ắc quy 220 AMPE nhãn hiệu ENIMEC màu đen, nút bình màu đỏ, thời điểm tháng 9/2022 là: 3.600.000 đồng.

- Một bình ắc quy NS60L 12V 45 AMPE nhãn hiệu Đồng Nai, thân bình màu trắng, mặt trên của bình màu đen thời điểm tháng 9/2022 là: 980.000 đồng.

Tổng cộng: 4.580.000đ (Bốn triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: Một bình ắc quy 220 AMPE nhãn hiệu ENIMEC màu đen, nút bình màu đỏ và một bình ắc quy NS60L 12V 45 AMPE nhãn hiệu Đồng Nai, thân bình màu trắng, mặt trên của bình màu đen.

Các vật chứng trên đã trả cho Trần Tấn Đ1 theo quyết định xử lý vật chứng số 31 ngày 22/11/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao.

Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSND-GQ, ngày 01/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố bị cáo Danh Ngọc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Danh Ngọc G mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Tấn Đ1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quyết định xử lý vật chứng số 31 ngày 22/11/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại và người làm chứng ông Huỳnh Công Đ2 đều có đơn xin vắng mặt và việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 15 giờ ngày 12/9/2022 tại tại ấp An Trường, xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, Danh Ngọc G lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu và không có người trông coi tài sản nên đã trộm cắp 01 bình ắc quy 220 AMPE nhãn hiệu ENIMEC màu đen, nút bình màu đỏ và 01 bình ắc quy NS60L 12V 45 AMPE nhãn hiệu Đồng Nai, thân bình màu trắng, mặt trên của bình màu đen của anh Trần Tấn Đ1, tài sản bị lấy trộm có tổng giá trị 4.580.000đ (Bốn triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Như vậy, hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm nhưng với bản chất lười lao động muốn có tài sản sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn và tài sản bị cáo đã lấy trộm cũng đã được thu hồi trao trả cho bị hại, đồng thời bị hại cũng có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt: Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo để xử phạt tù cho hưởng án treo và theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng đảm bảo cho việc giáo dục bị cáo, giúp bị cáo có điều kiện tự cải tạo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về vật chứng trong vụ án: Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao trả lại tài sản cho chủ sở hữu anh Trần Tấn Đ1 theo quyết định xử lý vật chứng số 31 ngày 22/11/2022.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Danh Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Danh Ngọc G 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2023).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao trả lại tài sản cho chủ sở hữu anh Trần Tấn Đ1 theo quyết định xử lý vật chứng số 31 ngày 22/11/2022.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Danh Ngọc G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Tấn Đ1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ