- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ly Seo Dìn và Sùng Seo Qua trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 288, Điều 579, 580, 584, 585 và 587, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Ly Seo D pH bồi thường cho vợ chồng chị Cư Thị D và anh Ma Seo P số tiền 2.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:15/2023/HS-ST Ngày 14/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết và bà Lê Giang Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Ly Seo D (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 03 tháng 02 năm 2005 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn) Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ly Seo S - Sinh năm: 1970 và bà Thào Thị D - Sinh năm: 1969, đều trú tại thôn L, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: trước khi bị bắt, bị cáo có nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/12/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2. Sùng Seo Q (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 01 tháng 11 năm 1995 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn) Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng Seo S
- Sinh năm: 1966 và bà Ma Thị D - Sinh năm: 1958, đều trú tại thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; bị cáo có vợ là Thào Thị N - Sinh năm: 1995, trú tại: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án: Tại bản án số 09/2021/HS-ST ngày 03/3/2021 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Sùng Seo Q 07 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, tính đến ngày phạm tội chưa được xóa án tích theo quy định.
Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/01/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Ly Seo D và Sùng Seo Q: Bà Đỗ Thị T Ba - Trợ giúp viên pháp lý của Trung T TGPL Nhà nước tỉnh Lào Cai.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị P - Sinh năm: 1976 và anh Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1974; Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn H là chị Nguyễn Thị P.
Cùng địa chỉ: Thôn Làng Bạc, xã Xuân Qng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Chị Cư Thị D - Sinh năm: 1986 và anh Ma Seo P - Sinh năm: 1984; Người đại diện theo ủy quyền của anh Ma Seo P là chị Cư Thị D.
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Chị Trịnh Thị Thanh T - Sinh năm: 1995 và anh Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1986; Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn H là chị Trịnh Thị Thanh T.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1994 và anh Vũ Văn N - Sinh năm: 1987; Người đại diện theo ủy quyền của anh Vũ Văn N là chị Nguyễn Thị T.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
Anh Vũ Duy H - Sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1975 và anh Nguyễn Bá Đ - Sinh năm: 1973; Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị H là anh Nguyễn Bá Đ.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Qn: anh Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Những người làm chứng:
Anh Đỗ Văn Cường - Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
Bà Ma Thị D - Sinh năm: 1958; Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - có mặt.
Anh Phạm Quang K - Sinh năm: 1973; Địa chỉ:Thôn Làng Bạc, xã Xuân Qng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
Anh Trần Xuân N - Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ 15/11/2022 đến 02/12/2022, Ly Seo D đã có hành vi trộm cắp 06 xe máy trên địa bàn tỉnh Lào Cai, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 15/11/2022 D đi bộ vào một lối đường mòn Tộc thôn Làng My, xã Xuân Qng phát hiện một xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu trắng, đen, bạc, biển số 24B3-031.94 của vợ chồng chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn H dựng ở gần bụi chuối không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy này. Sau khi Qn sát xung Qnh không có người, D đi bộ đến gần chiếc xe, dắt xe máy đi theo lối mòn hướng ra đường tỉnh lộ 157, tiếp tục dắt xe đến ngôi nhà hoang ở thôn Làng Cung 3, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng. Tại đây, D dùng tay bẻ biển số xe giấu tại nhà hoang, rồi lại dắt chiếc xe máy đi đến cửa hàng sửa chữa, bảo dưỡng xe máy của anh Nguyễn Văn Tưởng và bảo xe bị mất khóa cần sửa ổ khóa, hẹn hôm sau lấy xe và vay anh Tưởng số tiền 1.000.000 đồng để đi về nhà. Sau khi vay được tiền, D chi tiêu cá nhân hết. Do không thấy D đến lấy xe nên ngày 19/11/2022, anh Tưởng đã giao nộp chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave alpha, không biển số cho cơ Qn CSĐT Công an huyện Bảo Thắng để giải quyết theo quy định.
Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 21/11/2022, Ly Seo D đi bộ lên khu vực đồi chè Tộc thôn Làng My, xã Xuân Qng phát hiện ở chân đồi có dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu xanh đen, biển số 24B2-639.77 của vợ chồng chị Cư Thị D và anh Ma Seo P. D Qn sát xung Qnh không có người nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. D tiến đến gần chiếc xe máy thấy xe không khóa cổ, D dắt chiếc xe ra đồi quế cách đó khoảng 400m, dùng tay bẻ biển số xe, bẻ yếm và tháo gương vứt tại khu vực này, sau đó D dùng tay rút dây điện, đấu dây điện để nổ máy xe, khoảng 5-10 phút sau thì nổ được máy, D điều khiển xe máy này đi theo đường tỉnh lộ 157, đến tối thì ngủ lại trên đồi Tộc thôn Làng Cung 1, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng. Sau khi không thấy xe máy của mình, vợ chồng chị D cùng người nhà đã đi tìm thì thấy chiếc biển số 24B2-639.77, bộ yếm của xe và 02 gương chiếu hậu ở khu vực đồi quế. Đến sáng ngày 22/11/2022, khi D ngủ dậy chuẩn bị mang chiếc xe đi bán thì bị chị gia đình chị Cư Thị D phát hiện, D bỏ chạy để lại xe máy. Sau đó, gia đình chị D đã trình báo sự việc đến Công an xã Phong Niên, giao nộp chiếc xe máy và một số bộ phận của xe cho Cơ Qn công an để giải quyết theo quy định.
Vụ thứ ba: Sáng ngày 23/11/2022, Ly Seo D gặp Sùng Seo Q, Q rủ D “tối đi ăn trộm với tao”, D trả lời “Ừ”. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Sùng Seo Q điều khiển xe máy kiểu dáng xe Dream, biển số 24V1-019.11 mượn của anh Phạm Qng Khôi chở D đi theo đường quốc lộ 70 hướng thị trấn Nông trường Phong H, huyện Bảo Thắng về thành phố Lào Cai. Khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, khi đi đến địa phận xã Bản Phiệt, Sùng Seo Q dừng xe ở trên cầu khu vực ngã 3 xã Bản Phiệt và bảo D chia nhau ra đi tìm tài sản để trộm cắp nhưng D không đồng ý mà bảo pH đi cùng nhau. Sau đó, cả hai để xe lại đây rồi đi bộ theo đường liên xã Bản Phiệt - Vạn Hòa nằm bên trái đường quốc lộ 70. Do trời tối, Q lấy chiếc điện thoại OPPO A3s màu xanh đen của mình ra bật chế độ đèn pin để soi. Khi cả hai đi được khoảng 15 phút, Q Qn sát thấy bên trái đường theo hướng đi có 01 chiếc xe Wave alpha, màu xanh, biển số 24B2-411.52 của vợ chồng chị Trịnh Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn H đang dựng ở sân nhà, thấy xung Qnh vắng vẻ nên Q bảo D đứng nấp vào gần cột điện gần đó để cảnh giới cho Q trộm cắp xe máy, D đồng ý. Q cầm điện thoại soi và tiến đến gần chiếc xe máy thì thấy xe không cắm chìa khóa, không khóa cổ. Q dắt chiếc xe máy lùi ra đường, rồi dắt đi theo hướng ra đường Quốc lộ 70, D đi bộ theo phía sau. Đi được khoảng 20m, Q dừng lại, dùng tay rút dây điện của xe nhưng không được. Lo sợ gần nhà dân dễ bị phát hiện nên Q tiếp tục dắt xe máy, còn D đi phía sau đẩy xe thêm một đoạn khoảng hơn 30m nữa thì dừng lại, Q dùng tay rút dây điện của xe để đấu nổ, khoảng vài phút thì xe nổ được. Q điều khiển xe máy trộm cắp được chở D ra vị trí để chiếc xe Dream biển số 24V1-019.11. Q điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được theo đường Quốc lộ 70 hướng đi Phong H, còn D điều khiển xe máy biển số 24V1-019.11 đi theo sau. Khi cả hai đến khu vực Tộc tổ dân phố số 3, thị trấn Nông trường Phong H thì Q lấy lại chìa khóa xe Dream và bảo D đi bộ về trước. Khi trời đã sáng, một mình Q điều khiển xe máy biển số 24B2-411.52 vừa trộm cắp được đến để ở khu vực gần chợ Phong H, mục đích là đến tối sẽ Qy lại lấy xe mang đi bán nhưng khi Q Qy lại không thấy chiếc xe máy này đâu nữa.
Vụ thứ tư: Khoảng hơn 23 giờ ngày 24/11/2022, Ly Seo D một mình đi bộ dọc theo Quốc lộ 70, khi đến thị trấn Nông trường Phong H, huyện Bảo Thắng thì nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave alpha, biển số 24T1-021.62, màu sơn đỏ - đen đang dựng ở sân trước cửa nhà vợ chồng chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N. Thấy xung Qnh vắng vẻ, không có người, D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. D tiến đến gần chiếc xe máy thì thấy xe vẫn đang cắm chìa khóa nên D dắt xe về hướng UBND thị trấn Nông trường Phong H một đoạn thì mở khóa nổ máy xe và điều khiển xe đi về thành phố Lào Cai, trên đường đi D dừng xe, dùng tay bẻ biển số xe giấu ở một bụi cây ven đường. Đến sáng ngày 25/11/2022, D điều khiển chiếc xe máy đã trộm cắp được đi về hướng huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai để tìm chỗ tiêu thụ. Khi đi đến trước cửa hàng sắt vụn của chị Phan Thị Niên thì gặp một người đàn ông, D hỏi người này “Đây có mua xe không?”, sau khi trao đổi D bán xe máy trộm cắp được với giá 500.000đồng. Sau đó, D giúp người đàn ông khiêng chiếc xe này lên xe Win rồi D cầm tiền và đi bộ Qy về hướng thị trấn Nông trường Phong H. Trên đường về D nhặt lại chiếc biển số 24T1-021.62 mang về cất giấu ở nhà hoang ở thôn Làng Cung 3, Phong Niên.
Vụ thứ năm: Khoảng 00 giờ ngày 26/11/2022, Ly Seo D một mình đi bộ đến địa phận thôn Tòng Già, thị trấn nông trường Phong H, huyện Bảo Thắng, D thấy trước cửa một nhà dân nằm bên pH theo hướng đi có dựng 01 chiếc xe máy loại xe Wave RS, màu sơn đỏ - đen, biển số 24P1-5345 của anh Vũ Duy H, thấy xung Qnh không có người nên D quyết định trộm cắp chiếc xe này. D tiến đến gần xe máy thì thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện của xe, D mở chìa khóa xe lên rồi dắt lùi chiếc xe này ra đường quốc lộ 70, dắt đi thêm một đoạn thì nổ máy rồi điều khiển xe đi về căn nhà hoang Tộc Làng Cung 3, xã Phong Niên. Tại đây, D dùng tay bẻ biển số của xe cất giấu cùng chỗ với 02 chiếc biển số xe trước mà D đã trộm cắp được. Sáng cùng ngày, D điều khiển chiếc xe máy này về hướng thị trấn Phố Lu tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, D nhìn thấy cửa hàng sửa chữa xe máy của Trần Xuân N. D nói dối là muốn sửa xe nhưng vì không có tiền sửa nên thỏa Tận bán chiếc xe máy này cho anh N. Khi mua bán, D nói dối tên là Ly Seo H, xe mua ở Bắc Giang, không có giấy đăng ký, bản thân D không biết chữ và cũng không có giấy tờ tùy thân. N đồng ý mua chiếc xe của D với giá T mua sắt vụn là 500.000 đồng. Sau đó N sau đó đã bán lại xe máy cho Đỗ Văn Cường với giá 700.000 đồng. Sau khi biết chiếc xe là tài sản do trộm cắp mà có, ngày 19/12/2022, Cường đã tự nguyện giao nộp chiếc xe cho Cơ Qn CSĐT Công an huyện Bảo Thắng để giải quyết theo quy định.
Vụ thứ sáu: Khoảng 00 giờ ngày 02/12/2022, Ly Seo D một mình đi bộ đến gần nhà vợ chồng anh Nguyễn Bá Đ và chị Nguyễn Thị H ở tổ dân phố số 3, thị trấn Nông trường Phong H, huyện Bảo Thắng, D nhìn thấy ở trước sân nhà anh Đ có dựng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu đen, biển số 24B2-030.78. Qn sát xung Qnh thấy không có người nên D quyết định trộm cắp chiếc xe này. D tiến đến gần chiếc xe máy, thấy xe không khóa cổ, trên xe có buộc sọt đan bằng tre. D cởi sọt đặt xuống sân rồi dắt xe ra đường Quốc lộ 70 đi về hướng Lào Cai, đi khoảng 40m-50m thì dừng lại, dùng tay rút dây điện ở đầu xe rồi đấu lại, nổ máy và điều khiển xe về hướng thành phố Lào Cai. Khi đi đến khu vực Tộc tổ dân phố số 3, thị trấn Nông trường Phong H, D dùng tay tháo gương chiếu hậu bên trái và biển số của xe máy vứt xuống rãnh nước bên pH đường theo hướng đi. Chiếc xe này, D sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 19/12/2022, lực lượng Công an huyện Bảo Thắng đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố Phú Cường 1, thị trấn Phố Lu, thì phát hiện Ly Seo D đang điều khiển chiếc xe máy có đặc điểm giống với chiếc xe anh Nguyễn Bá Đ trình báo bị trộm cắp nên yêu cầu D dừng xe kiểm tra. Khi bị kiểm tra, D không xuất trình được giấy tờ xe nên lực lượng công an đã mời D về trụ sở làm việc. Tại đây, D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe máy biển số 24B2-030.78 của vợ chồng anh Nguyễn Bá Đ vào ngày 02/12/2022.
Toàn bộ số tiền bán xe máy do trộm cắp được, D chi tiêu cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng, kết luận: xe máy BKS 24P1-5345 có trị giá 5.000.000 đồng, xe máy nhãn hiệu BKS 24T1-021.62 có trị giá 7.500.000 đồng, xe máy BKS 24B3-031.94 có trị giá 14.000.000 đồng, xe máy BKS 24B2-639.77 có trị giá 12.000.000 đồng (04 xe máy Ly Seo D trộm cắp ở vụ thứ 1, 2, 4, 5); xe máy BKS 24B2-411.52 trị giá 11.000.000 đồng (Ly Seo D và Sùng Seo Q trộm cắp ở vụ thứ 3). Tổng giá trị của 05 xe máy là 49.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng, kết luận: xe máy biển số 24B2-030.78 có trị giá 3.000.000 đồng (Ly Seo D trộm cắp ở vụ thứ 6).
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSBT ngày 02/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Ly Seo D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Sùng Seo Q về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên Qn điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ly Seo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 90, 91, 101, Điều 17, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ly Seo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Tuyên bố bị cáo Sùng Seo Q phạm tội "Trộm cắp tài sản", đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm h, s Khoản 1 Điều 51, điểm h, o Khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58 Bộ luật hình sự xử phạt Sùng Seo Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Về vật chứng của vụ án: Cơ Qn điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe máy và các giấy tờ liên Qn cho chủ sở hữu, chị P, anh H, anh Đ nhất trí không yêu cầu bị cáo pH bồi thường; Chị Cư Thị D và anh Ma Seo P nhận lại tài sản yêu cầu bị cáo D bồi thường 2.000.000 đồng tiền sửa xe, bị cáo nhất trí nhưng chưa bồi thường. Đối với một số vật chứng cơ Qn điều tra không T hồi được, chị T và anh H yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị xe bị mất 11.000.000 đồng, bị cáo D và Q đều nhất trí nhưng chưa bồi thường. Chị T và anh N không yêu cầu bị cáo D pH bồi thường.
Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch T sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A3S mầu xanh, không gắn thẻ sim do bị cáo Q sử dụng trong quá trình trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 288, 584, 585 và 587, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Ly Seo D pH bồi thường cho vợ chồng chị D, anh P số tiền 2.000.000 đồng, buộc các bị cáo pH có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho vợ chồng chị T, anh H số tiền 11.000.000 đồng, mỗi bị cáo pH bồi thường 5.500.000 đồng; Buộc bị cáo Ly Seo D pH hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Tưởng số tiền 1.000.000 đồng.
Do các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên Qn theo quy định của pháp luật.
Qn điểm của người bào chữa: Nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng về việc truy tố đối với hai bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh, các bị cáo không biết chữ, bị cáo D chưa đủ 18 tuổi, các bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế.
Đề nghị tuyên bố bị cáo Ly Seo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 90, 91, 101, Điều 17, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ly Seo D từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Tuyên bố bị cáo Sùng Seo Q phạm tội "Trộm cắp tài sản", đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm h, s Khoản 1 Điều 51, điểm h, o Khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58 Bộ luật hình sự xử phạt Sùng Seo Q từ 09 tháng đến 01 năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ Qn, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét xử công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định, bị cáo Ly Seo D đã có hành vi “Trộm cắp tài sản” của các bị hại với tổng số tiền là 52.500.000 đồng. Trong khoảng thời gian ngắn từ tháng 11-12/2022, bị cáo Ly Seo D đã liên tiếp thực hiện 06 vụ trộm xe máy trên địa bàn huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra cũng như lời khai của bị cáo D tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định bị cáo D không có nghề nghiệp, liên tiếp thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản, đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy số tiền bán tài sản trộm cắp làm nguồn sống chính. Do đó bị cáo D pH chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung "có tính chất chuyên nghiệp", "chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000đồng đến dưới 200.000.000đồng" theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ly Seo D là người trực thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản và cảnh giới, giúp sức cho Sùng Seo Q thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản. Tại thời điểm phạm tội thì Ly Seo D 17 năm 09 tháng 20 ngày tuổi nên cần áp dụng quy định tại Điều 91, 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với Sùng Seo Q: Ngày 23/11/2022, bị cáo Q là người khởi xướng, rủ rê Ly Seo D trộm cắp tài sản và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy Wave alpha biển số 24B2-411.52 nên bị cáo Q giữ vai trò chính trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn.
Bị cáo Q đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 09/2021/HS-ST ngày 03/3/2021 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý vì vậy pH chịu trách nhiệm với tình tiết tăng nặng "tái phạm" theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ Qn điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định bị cáo Ly Seo D bị truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c Khoản 2 Điều 173 và bị cáo Sùng Seo Q bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần có mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
Liên Qn đến vụ án còn có Nguyễn Văn Tưởng là người nhận giữ chiếc xe máy do Ly Seo D trộm cắp vào ngày 15/11/2022 và cho D vay số tiền 1.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định Tưởng không biết chiếc xe đó là tài sản do D trộm cắp mà có nên Cơ Qn điều tra không xử lý trách nhiệm đối với Tưởng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Việc anh Tưởng cho D vay số tiền 1.000.000 đồng, anh Tưởng yêu cầu bị cáo pH hoàn trả vì vậy cần buộc bị cáo D pH hoàn trả cho anh Tưởng số tiền 1.000.000đồng.
Đối với người đàn ông ở khu vực xã Qng Kim, huyện Bát Xát, là người đã mua xe máy mà Ly Seo D trộm cắp vào ngày 24/11/2022 nhưng không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ Qn điều tra không có đủ căn cứ để xử lý.
Đối với Trần Xuân N là người đã mua xe máy do Ly Seo D trộm cắp được vào rạng sáng 26/11/2022 và Đỗ Văn C là người đã mua lại chiếc xe máy này từ Trần Xuân N. Quá trình mua bán, N và Cường đều không biết đó là tài sản do Ly Seo D trộm cắp mà có, Cơ Qn điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm Trần Xuân N và Đỗ Văn Cường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Phạm Qng Khôi là người cho Sùng Seo Q mượn chiếc xe máy biển số 24V1-019.11, sau đó các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Q điều tra xác định Khôi không biết Q đi đâu, làm gì và không liên Qn đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ Qn CSĐT Công an huyện Bảo Thắng đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho Khôi theo quy định.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Q có 02 tình tiết tăng nặng là "tái phạm" và "xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội" theo quy định tại điểm h, điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo D có 01 tình tiết tăng nặng là "phạm tội hai lần trở lên" theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo D có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và đầu thú theo quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Q có 02 tình tiết giảm nhẹ là "phạm tội gây thiệt hại không lớn" và "thành khẩn khai báo" theo quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Ly Seo D pH bồi thường cho vợ chồng chị Cư Thị D, anh Ma Seo P số tiền 2.000.000 đồng và buộc bị cáo D pH hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Tưởng số tiền 1.000.000đồng; Buộc bị cáo D và Q pH liên đới bồi thường cho vợ chồng chị Trịnh Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn H số tiền 11.000.000đồng, mỗi bị cáo pH bồi thường 5.500.000đồng.
Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch T sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A3S mầu xanh, không gắn thẻ sim do bị cáo Q sử dụng trong quá trình trộm cắp tài sản.
Đối với những vật chứng mà cơ Qn điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu, những người đã nhận tài sản thì đều nhất trí và không ai có ý kiến gì khác nên không xem xét giải quyết
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc các bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng:
Về đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với các bị cáo là nhẹ, căn cứ tính chất, hành vi phạm tội nên HĐXX cần xem xét mức hình phạt nghiêm khắc hơn đề nghị của người bào chữa đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 90, 91 và Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Ly Seo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Ly Seo D 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/12/2022.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm h, s Khoản 1 Điều 51, Điểm h, o Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Sùng Seo Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Sùng Seo Q 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/01/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 288, Điều 579, 580, 584, 585 và 587, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Ly Seo D pH bồi thường cho vợ chồng chị Cư Thị D và anh Ma Seo P số tiền 2.000.000 đồng; Buộc bị cáo Ly Seo D pH hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Tưởng số tiền 1.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Ly Seo D và Sùng Seo Q pH có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho vợ chồng chị Trịnh Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn H số tiền 11.000.000 đồng, mỗi bị cáo pH bồi thường 5.500.000 đồng.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch T sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A3s mầu xanh, IMEI1 866269042996334, IMEI2 866269042996326 không gắn thẻ sim, máy cũ đã Q sử dụng T giữ của Sùng Seo Q. Vật chứng trong vụ án đã được Cơ Qn Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/3/2023.
4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Ly Seo D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 425.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 625.000 đồng.
Bị cáo Sùng Seo Q pH chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000 đồng;
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên Qn. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên Qn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án; Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện Bảo Thắng;
- Công an huyện Bảo Thắng;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng;
- Cơ Qn THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo (3);
Nguyễn Thị Hoàng Liên
- Bị hại (5); Người liên Qn;
- Thi hành án (5); -Lưu HS,TA,THS,VP.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hoàng Liên
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai - VKSND tỉnh Lào Cai; VKSND Bảo Thắng; - Công an Bảo Thắng (2); Công an TP Lào Cai; - PC (81); Sở tư pháp; - Bị cáo; Bị hại; Người bào chữa; - THA (2); Đại diện HP của bị cáo; - Lưu HS,TA,THS,VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |