- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức Nh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-PT Ngày: 23-02-2023 |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương
Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu và Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đoàn Quang Tiến-Thư ký Tòa án Nh dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2022/HS-PT ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Đỗ Đức Nh do có kháng cáo của bị cáo Nh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 107/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Tòa án Nh dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo kháng cáo:
Đỗ Đức Nh; sinh ngày 05 tháng 7 năm 1975 tại Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, chỗ ở tạm trú hiện nay: Tổ dân phố b, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn H (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1934; có vợ: Trần Thị Tú, sinh năm 1978; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình bản thân: Sinh ra và lớn lên tại xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, được cha mẹ nuôi dưỡng, học đến lớp 7/10 thì nghỉ học. Năm 1992, vào thành phố Đà Nẵng học nghề rồi về làm sửa chữa điện tử tại địa phương. Năm 1999, lấy vợ và chuyển về sống tại tổ dân phố 4, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Ngày 06/4/2010, bị Toà án nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Ngày 24/4/2015, bị Toà án Nh dân thành phố Đồng Hới xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 20/8/2015 bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thi hành án tại Trại giam Đồng Sơn. Ngày 31/8/2016 ra trại, về địa phương lao động tự do cho đến ngày phạm tội. Đỗ Đức Nh bị bắt tạm giam từ ngày 30/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn Th và 2 người bị hại, 2 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng đều không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ tháng 12/2021 đến tháng 5/2022, Đỗ Đức Nh đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, trong đó cùng Nguyễn Văn Th thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Cụ thể:
Vụ thứ 1: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 03/12/2021, Đỗ Đức Nh đi bộ đến xưởng cơ khí của anh Nguyễn Nhật Đ ở số 88 đường H thuộc Tổ dân phố 10, phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, phát hiện 01 nắp ca pô máy đào HUYNDAI bằng kim loại để ở trước xưởng không có người trông giữ, Nh lấy trộm rồi mang đến bán tại tiệm phế liệu của anh Lê Đình M ở đường Võ Thị Sáu thuộc phường Nam Lý lấy 270.000 đồng, tiêu xài hết. Nắp ca pô trên anh M bán cho người không rõ lý lịch nên không thu hồi được.
Vụ thứ 2: Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày Nh gặp Nguyễn Văn Th tại đường Võ Thị Sáu, phường Nam Lý. Cả hai rủ nhau đi trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài, Nh dẫn Th quay lại xưởng cơ khí của anh Nguyễn Nhật Đ. Thấy trước xưởng có 01 hàm gàu máy xúc bằng sắt nhãn hiệu DOOSAND, cả hai cùng nhau di chuyển hàm gàu trên ra sát đường rồi thuê 01 xe bán tải qua đường chở tài sản trên đến bán ở tiệm thu mua phế liệu của anh Lê Đình M lấy 700.000 đồng. Nh dùng 100.000 đồng từ số tiền trên trả cho tài xế xe tải, còn lại 600.000 đồng Th và Nh chia nhau tiêu xài hết. Hàm gàu máy xúc trên anh Minh bán cho người không rõ lý lịch nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 102/KL-HĐĐG ngày 08/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới, kết luận: 01 nắp capo máy đào HUYNDAI trị giá: 3.200.000 đồng; 01 hàm gàu máy xúc DOOSAND trị giá: 6.400.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 14/5/2022, sau khi mượn xe ba gác của anh Hoàng Văn L ở Tổ dân phố 2 phường P, phường B, thành phố Đồng Hới đi trộm cắp tài sản, Nh đi đến công trình xây dựng nhà ở tại khu đô thị mới phía Bắc đường Trần Quang Khải, thuộc Tổ dân phố 11, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới do anh Nguyễn Thanh B phụ trách xây dựng, thấy 18 thanh thép hộp mạ kẽm các loại của anh Bình để ở bải tập kết vật liệu không có người trông giữ, Nh lấy trộm số thép trên rồi đem đến tiệm thu mua phế liệu của anh Hoàng Văn L bán lấy 780.000 đồng và trả xe ba gác cho anh L. Số tiền trên Nh tiêu xài hết. Số thép trên anh L bán cho người không rõ lý lịch nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐG ngày 30/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới, kết luận: 03 thanh thép hộp mạ kẽm, rỗng ruột, mỗi thanh kích thước (5x10) cm, dài 02m, mua năm 2022 trị giá: 630.000 đồng; 15 thanh thép hộp mạ kẽm rỗng ruột, mỗi thanh kích thước (5x5) cm, dài 02m, mua năm 2022 trị giá 2.100.000 đồng.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Nhật Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền là 9.600.000 đồng; Anh Nguyễn Thanh B yêu cầu Nh bồi thường số tiền là 2.730.000 đồng
Tại bản án số 107/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình quyết định tuyên bố bị cáo Đỗ Đức Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s,t khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự ; Điều 42 Bộ luật hình sự , Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà ánxử phạt bị cáo Đỗ Đức Nhbị cáo 18 (mười tám) tháng tù.
Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Trong thời hạn luật định, ngày 02/12/2022, bị cáo Đỗ Đức Nh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì lý do án sơ thẩm quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Đức Nh thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo xuất trình giấy tờ chứng minh ông Đỗ Văn Hữu bố của bị cáo là người có công cách mạng, được nhà nước tặng huân chương ; Biên lai tự nguyện nộp 2.000.000 đồng bồi thường dân sự ;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, áp dụng thêm tình tiết quy định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS, giảm cho bị cáo 3 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi 3 lần lấy trộm tài sản của người khác tổng trị giá 12.330.000 đồng. Hành vi của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với điều luật đã được viện dẫn ở trên là đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Đức Nh, Hội đồng xét xử thấy rằng : Mặc dù bị cáo 3 lần trộm cắp tài sản, phạm tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, về Nh thân nhiều lần bị kết án. Tuy nhiên, với tính chất của hành vi phạm tội, giá trị tài sản trộm cắp được là không lớn, Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 18 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết bồ bị cáo là người có công cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến, vợ bị cáo tự nguyện nộp 1 phần tiền bồi thường dân sự cho những người bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tạ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 52, cần xem xét để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo kháng cáo là phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo để sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức Nh, sửa bản án sơ thẩm số 107/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đức Nh 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/6/2022.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Vụ giám đốc kiểm tra 1 TANDTC; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - TAND thành phố Đồng Hới; - Công an thành phố Đồng Hới; - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới; - Những người TGTT; - Lưu VP; HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Từ Thị Hải Dương |