- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tôn Nữ Huyền T - Nguyễn Thành C"
- Tòa quyết gì? Vền hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Thị Huyền T đối với ông Nguyễn Thành C. Xử cho bà Tôn Thị Huyền T ly hôn với ông Nguyễn Thành C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 3 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 6 - 2023 “V/v tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Thị Nguyệt.
Bà Võ Thị Minh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Tôn Thị Huyền T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Đường N, Khu phố C, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Nhà T, đường L, Khu phố D, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn của bà Tôn Thị Huyền T và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Tôn Thị Huyền T trình bày: Vào năm 2010 bà với ông C tìm hiểu, thương yêu nhau sống như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là Phường A, thị xã K), hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Từ đó, tình cảm vợ chồng rạn nứt và lạnh nhạt nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung, hiện hai người đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Vì vậy, bà T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông C trả tự do cho nhau.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng bà T, ông C chung sống có ba người con chung tên Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2011, giới tính: Nữ; Nguyễn Hoài B, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2016, giới tính: Nam và Nguyễn Thành T2, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2021, giới tính: Nam, hiện nay bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T cam kết không có.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện bà Tôn Thị Huyền T Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án số 89/TB-TLVA ngày 27/12/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 65/TB-TA ngày 29/12/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 15/TB-TA ngày 13/3/2023 đã niêm yết hợp lệ cho ông C theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng ông C không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Tôn Thị Huyền T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Đường N, Khu phố C, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Nhà T, đường L, Khu phố D, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết hợp lệ cho ông C theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng ông C không có mặt. Do đó Hội đồng xét xử vắng mặt ông C là phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Tôn Thị Huyền T với ông Nguyễn Thành C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là Phường A, thị xã K). Đây là hôn nhân hợp pháp nên Tòa án thụ ký giải quyết là phù hợp với với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Tôn Thị Huyền T xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với ông Nguyễn Thành C, không còn điều kiện, khả năng hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con chung nên yêu cầu được ly hôn với ông C. Xét thấy, tình cảm vợ chồng của bà T với ông C đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thương yêu, quí trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện tại hai người đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Vì vậy, cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tôn Thị Huyền T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng bà T, ông C chung sống có ba người con chung tên Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2011, giới tính: Nữ; Nguyễn Hoài B, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2016, giới tính: Nam và Nguyễn Thành T2, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2021, giới tính: Nam, hiện nay bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, yêu cầu của bà T là hoàn toàn tự nguyện, đúng với nguyện vọng của con. Mặt khác để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T tiếp tục giao ba người con chung tên Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2011, giới tính: Nữ; Nguyễn Hoài B, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2016, giới tính: Nam và Nguyễn Thành T2, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2021, giới tính: Nam cho bà Tôn Thị Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà T cam kết không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Thành C từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử không có văn bản ghi ý kiến của mình, không đến tham gia phiên hòa giải và phiên tòa đối với yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Thị Huyền T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định bà Tôn Thị Huyền T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56 và từ Điều 84 đến Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016
Tuyên xử:
Vền hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Thị Huyền T đối với ông Nguyễn Thành C. Xử cho bà Tôn Thị Huyền T ly hôn với ông Nguyễn Thành C.
Về con chung: Tiếp tục giao ba người con chung tên Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2011, giới tính: Nữ; Nguyễn Hoài B, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2016, giới tính: Nam và Nguyễn Thành T2, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2021, giới tính: Nam cho bà Tôn Thị Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Thành C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Tôn Thị Huyền T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Tôn Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000846 ngày 16/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bà Tôn Thị Huyền T biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông Nguyễn Thành C được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND thị xã; - Chi cục THADS thị xã; - UBND xã Bình Hiệp, TX Kiến Tường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trình Văn Út |