- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn hữa T"
- Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Hữu T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 6 - 2023 “ V/v tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Quý
2.Ông Hoàng Thanh Diện
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2023/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1983
Nơi cư trú: thôn Long T, xã Quảng T, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T - Sinh năm: 1974
Nơi cư trú: thôn Long T, xã Quảng T, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2023 và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng T, huyện Quảng Trạch (Nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình vào ngày 01 tháng 01 năm 2009. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau, anh Tưởng nhiều lần gây gỗ, đánh đập chị nên tình cảm ngày càng phai nhạt, vì vậy chị và anh Tưởng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Tưởng để sớm ổn định cuộc sống.
Quá trình chung sống chị và anh T có hai con chung, tên là Nguyễn Diệu Huyền, sinh ngày 20/9/2009 và Nguyễn Đại Phát, sinh ngày 20/9/2011. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Diệu Huyền và giao con Nguyễn Đại Phát cho anh Tưởng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị chưa tôn tạo được tài sản chung gì; anh chị không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Hữu T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo việc thụ lý vụ án, đồng thời triệu tập anh đến Tòa án nhiều lần để giải quyết việc chị Nguyễn Thị Thanh xin ly hôn, nhưng anh Tưởng đều vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết.
Qua xác minh tại địa phương và Công an xã Quảng Tiên thì anh Nguyễn Hữu Tưởng đang có hộ khẩu thường trú và làm ăn sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Hữu Tưởng.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Thanh ly hôn với anh Tưởng. Đề nghị áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Diệu Huyền và giao con Nguyễn Đại Phát cho anh Tưởng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Do chị Thanh không yêu cầu xem xét về tài sản chung của vợ chồng nên không xem xét giải quyết về vấn đề này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Th có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hữu T; anh Tưởng có nơi cư trú tại xã Quảng Tiên, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.
Về sự vắng mặt của anh Nguyễn Hữu Tưởng tại phiên toà: anh Tưởng mặc dù đã được Tòa án triệu tập và niêm yết Giấy triệu tập đến phiên toà hai lần vào các ngày 23/5/2023 và ngày 12/6/2023 nhưng anh Tưởng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Hữu Tưởng.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh và anh Nguyễn Hữu Tưởng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch (Nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình vào ngày 01 tháng 01 năm 2009 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị Thanh và anh Tưởng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhiều lần, nhưng anh Tưởng đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản cho Tòa án biết. Chứng tỏ anh Tưởng cũng chẳng tha thiết gì đến việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Thanh được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Tưởng là có cơ sở.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị Thanh và anh Nguyễn Hữu Tưởng có 02 con chung là Nguyễn Diệu Huyền, sinh ngày 20/9/2009 và Nguyễn Đại Phát, sinh ngày 20/9/2011. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Diệu Huyền và giao con Nguyễn Đại Phát cho anh Tưởng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Mặt khác, cháu Nguyễn Diệu Huyền có Đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ, cháu Nguyễn Đại Phát có Đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với bố. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Thanh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Diệu Huyền và giao cho anh Tưởng trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng con Nguyễn Đại Phát là hoàn toàn phù hợp. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Thanh khai nhận, giữa chị với anh Nguyễn Hữu Tưởng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Hữu T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, xử cho chị Nguyễn Thị Thanh được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
3. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Diệu H, sinh ngày 20/9/2009 và giao cho anh Nguyễn Hữu T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đại Phát, sinh ngày 20/9/2011 cho đến khi các con chung trưởng thành (18 tuổi). Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
4. Về quan hệ tài sản chung: Không có nên không xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được trừ đi 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003546, ngày 01/3/2023. Chị Nguyễn Thị Thanh đã nộp đủ tiền án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(12/6/2023). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND thị xã Ba Đồn; - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn; - UBND xã Quảng Trung; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Dương |