vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Xử ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Trần Văn D.

[2] Về con chung: Giao anh Trần Văn D được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 10/6/2018 (con gái) và cháu Trần Đức H, sinh ngày 01/11/2019 (con trai). Chị Lê Thị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Trần Văn D mỗi tháng cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1] Xử ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Trần Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST.
Ngày 28 - 4 - 2023.
V/v “Tranh chấp kiện ly hôn, nuôi
con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, về tranh chấp kiện xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 1997. Địa chỉ: thôn KT, xã KQ, huyện TT, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn 1, xã ĐX, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

( Phiên toà vắng mặt chị P, anh D và đều có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị P và anh Trần Văn D có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguỵện vào ngày 07/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã ĐX, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau được khoảng hơn 01 năm. Việc kết hôn có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tại địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận đến đầu năm 2021 thì đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên không còn hợp nhau về quan điểm sống, cách sống, cách suy nghĩ nữa nên giữa vợ chồng anh chị hay xảy ra cãi vã không còn hạnh phúc như trước và vợ chồng không còn tiếng nói chung. Chính vì vậy vợ chồng anh chị đã sống ly thân được hơn 01 năm nay. Quá trình sống ly thân, chị P bỏ về nhà mẹ đẻ ở xã KT, huyện TT, thành phố Hà Nội sống nên hai bên không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó. Đến nay, cả chị P và anh D xác định tình cảm không còn dành cho nhau nữa. Nguyện vọng của chị P đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn D, còn anh Trần Văn D trước yêu cầu xin ly hôn của chị P anh không đồng ý ly hôn, nếu chị P vẫn kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo nguyện vọng của chị P anh không có ý kiến gì.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị thống nhất chỉ có 02 con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 10/6/2018 (con gái) và cháu Trần Đức H, sinh ngày 01/11/2019 (con trai) do anh D đang nuôi dưỡng.

Nguyện vọng của chị P: Chị rất muốn nuôi cả hai con chung nhưng nếu anh D kiên quyết xin nuôi cả hai con chung thì chị cũng đồng ý giao cả 02 cháu Trần Anh T, Trần Đức H cho anh D nuôi dưỡng, chăm sóc vì các cháu đang ở ổn định với anh D và bố mẹ anh D cũng hỗ trợ anh D trong việc chăm sóc các cháu, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ cho đến khi các cháu trưởng thành.

Nguyện vọng của anh Trần Văn D: Anh xin được nuôi cả 02 con chung Trần Anh T, Trần Đức H và anh đề nghị chị P cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ cho đến khi các cháu trưởng thành.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng thống nhất không có nên không đề nghị giải quyết.

* Quan điểm của Ủy ban nhân dân xã ĐX: Đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị P và anh D theo quy định của pháp luật và giải quyết việc nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung của vợ chồng anh chị cho phù hợp với thực tế điều kiện nuôi dưỡng của hai bên anh chị đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu Trần Anh T, Trần Đức H.

* Tại phiên toà hôm nay: Chị P, anh D đều vắng mặt nhưng đều đã có đơn xin vắng mặt và đều giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:

Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 68; 144; 147; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị P.

- Xử ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Trần Văn D.

- Về con chung: Giao anh Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung Trần Anh T, Trần Đức H. Chị Lê Thị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Trần Văn D mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ cho đến khi các cháu Trần Anh T, Trần Đức H trưởng thành đủ 18 tuổi.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị P phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Trần Văn D có nơi cư trú tại thôn 1, xã ĐX, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” giữa chị Lê Thị P và anh Trần Văn D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Chị Lê Thị P và anh Trần Văn D đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đã thể hiện quan điểm của mình. Do đó việc xét xử vắng mặt chị P, anh D tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị P và anh Trần Văn D là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã ĐX, thành phố PL, tỉnh Hà Nam đã đảm bảo trình tự, thủ tục kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đình bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị P cũng như quan điểm của anh Trần Văn D, Hội đồng xét xử thấy: Hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và đã có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Quá trình chung sống, cho đến năm 2021 hai bên đã bất đồng quan điểm sống, cách sống nên không thể có tiếng nói chung. Do đó, vợ chồng anh chị đã sống ly thân hơn 01 năm nay nên cả hai bên đều xác định tình cảm dành cho nhau không còn. Chị P xin ly hôn, anh D mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng chị P kiên quyết ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị P và anh cũng không có ý kiến gì. Điều đó chứng tỏ vợ chồng anh chị không còn đồng cảm về cách nghĩ và không mong muốn níu kéo mối quan hệ hôn nhân với nhau nữa. Xét thấy, cuộc hôn nhân của vợ chồng anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc giải quyết ly hôn là cần thiết nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P là phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng thống nhất có 02 con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 10/6/2018 (con gái) và cháu Trần Đức H, sinh ngày 01/11/2019 (con trai). Hội đồng xét xử thấy, các cháu Trần Anh T, Trần Đức H đang ở ổn định với anh D và nguyện vọng của anh D muốn được nuôi cả hai con chung, chị P cũng đồng ý với nguyện vọng của anh D. Vì vậy, cần giao cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Trần Anh T, Trần Đức H và chị P có trách nhiệm cấp đưỡng nuôi con chung cùng anh D mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp thực tế và pháp luật theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị P, anh D thống nhất không có, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị P phải nộp án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 144; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Xử ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Trần Văn D.

[2] Về con chung: Giao anh Trần Văn D được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 10/6/2018 (con gái) và cháu Trần Đức H, sinh ngày 01/11/2019 (con trai). Chị Lê Thị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Trần Văn D mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), kể từ tháng 4 năm 2023, cho đến khi các cháu Trần Anh T, Trần Đức H trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[3] Án phí:

+ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị P phải nộp 300.000đ.

+ Án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị P phải nộp 300.000đ.

Chị Lê Thị P phải nộp tổng cộng là 600.000đ được đối trừ với số tiền 300.000đ mà chị P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0001609 ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Chị P còn phải nộp tiếp 300.000đ.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ