vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Như Q với ông Lê Thanh L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như Q được ly hôn với ông Lê Thanh L. Về con chung: Giao hai con 02 con Lê Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/10/2017 và Lê Ngọc Bảo K, sinh ngày 29/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Như Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Lê Thanh L có nghĩa vụ cấp dưỡng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Như Q với ông Lê Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 7 - 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Sơn

2. Ông Nguyễn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu - Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham

gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ hành Sơn, TP. Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nhƣ Q, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Tổ 09, phường Hòa Q1, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng- Có mặt;

2. Bị đơn: Ông Lê Thanh L, sinh năm: 1981

Địa chỉ: Tổ 09, phường Hòa Q1, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2023, bản trình bày và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tôi kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của các con. Mặc dù đã cố gắng, tuy nhiên vẫn không thể chung sống hòa hợp.

Hiện nay hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Thanh L.

- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung tên là Lê Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/10/2017 và Lê Ngọc Bảo K, sinh ngày 29/3/2021. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Lê Thanh L đã được tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông L trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông L vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn là ông Lê Thanh L đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 56; 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 35; Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của bà Nguyễn Thị Như Q đối với ông Lê Thanh L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như Q được ly hôn với ông Lê Thanh L.

Về con chung: Giao hai con Lê Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/10/2017 và Lê Ngọc Bảo K, sinh ngày 29/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Như Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như Q nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Lê Thanh L vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Lê Thanh L kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là đôi hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khai nại của bà Q, trong quá trình chung sống cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vả, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của các con.

Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông L tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc, trong quá trình chung sống với nhau cả hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, giữa họ chỉ có trên danh nghĩa vợ chồng, đã từ lâu không còn trách nhiệm gì với nhau. Do đó, bà Q đã đưa các con về nhà cha mẹ đẻ sinh sống thừ tháng 02/2/23 đến nay.

Việc bà Q cương quyết xin ly hôn còn ông L vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án cũng không có ý kiến của ông L để hòa giải, động viên vợ chồng về sống đoàn tụ gia đình, nhằm khắc phục được sự mâu thuẫn để có sức thuyết phục, níu kéo bà Q trở lại hàn gắn hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con cái trưởng thành. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng không có cơ sở để bảo vệ cho ông L được.

Qua điều tra, xác minh tại địa phương cho thấy bà Nguyễn Thị Như Q và ông Lê Thanh L có cư trú tại tổ 09, phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng; về tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Như Q và ông Lê Thanh L như thế nào thì không nắm rõ vì vợ chồng không báo cho tổ trưởng cũng như chi hội phụ nữ tại địa phương biết. Được biết khoảng thời gian gần đây (hai hoặc ba tháng nay) thì vợ chồng không còn sống chung với nhau, bà Q đã chuyển về nhà cha mẹ đẻ ở.

Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành S tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như như đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ. [3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Như Q và ông Lê Thanh L thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Như Q được ly hôn ông Lê Thanh L để giải phóng cho nhau là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Vợ chồng bà Q và ông L có 02 con chung tên là Lê Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/10/2017 và Lê Ngọc Bảo K, sinh ngày 29/3/2021. Ly hôn, bà Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Ở đây cháu Bảo T và Bảo K hiện còn nhỏ và đang ở với mẹ từ trước đến nay nên cuộc sống của các cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc nuôi dưỡng của mẹ đối với con; điều đó cũng phù hợp với nguyện vọng của bà Q được nuôi dưỡng các cháu để thuận tiện cho việc chăm sóc và đi học. Xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử xét cần giao hai cháu Lê Ngọc Bảo T và Lê Ngọc Bảo K cho bà Q được trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa bà Q yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của bà Q là phù hợp với khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

- Về tài sản chung: Bà Q xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Về nợ chung: Bà Q xác định không có nợ chung nên không xem xét.

Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Như Q phải chịu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Như Q với ông Lê Thanh L.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như Q được ly hôn với ông Lê Thanh L.

2. Về con chung: Giao hai con 02 con Lê Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/10/2017 và Lê Ngọc Bảo K, sinh ngày 29/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Như Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Lê Thanh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 29/7/2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

4. Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Như Q phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009568 ngày 15/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ