- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Phương T + Lê Ngọc Bảo Tr"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-5-2023 Về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trƣơng Thị Mỹ Hạnh – Ông Ngô Văn Khanh
- Thư ký phiên toà: Bà Lƣơng Thị Thanh Dung - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Phƣơng Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Phương T - sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 22, phường N, quận L, TP Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Ngọc Bảo Tr - sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ 22, phường N, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Dƣơng Thị Phƣơng T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Phương T và anh Lê Ngọc Bảo Tr kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại phường M, quận S, TP Đà Nẵng, đến tháng 5.2022 thì chuyển đến sinh sống tại quận L, TP Đà Nẵng và có đăng ký tạm trú tại đây. Quá trình chung sống thì từ năm 2019 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát, cãi vả. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tôn trọng nhau, ông Tr không có trách nhiệm với vợ con, không lo làm ăn để lo cho kinh tế gia đình, hiện nay vợ chồng không còn sống chung. Vì mong con cái có đầy đủ cha mẹ nên bà T nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
- Về uan hệ con chung: Bà Dương Thị Phương T khai nhận có 01 con chung là Lê Dương Bảo T - sinh ngày 14.10.2018. Hiện nay bà T đang trực tiếp nuôi con chung, quá trình chung sống thì ông Tr không có trách nhiệm với gia đình nên nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì bà Dương Thị Phương T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Lê Ngọc Bảo Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về uan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Dương Thị Phương T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
Bị đơn - ông Lê Ngọc Bảo Tr mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại BLTTDS, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Quá trình tòa án thụ lý giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã có ý kiến trình bày quan điểm của mình và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS; mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham dự phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Dương Thị Phương T được ly hôn với ông Lê Ngọc Bảo Tr; giao con chung Lê Dương Bảo T - sinh ngày 14.10.2018 cho bà Dương Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung bà Dương Thị Phương T khai nhận không có nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn bà Dương Thị Phương T với bị đơn ông Lê Ngọc Bảo Tr thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.
Bị đơn ông Lê Ngọc Bảo Tr được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa ông Lê Ngọc Bảo Tr vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Lê Ngọc Bảo Tr.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Phương T đối với ông Lê Ngọc Bảo Tr thì thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Phương T và ông Lê Ngọc Bảo Tr đăng ký kết hôn năm 2017 tại UBND phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 139, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống bà Dương Thị Phương T cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, ông Tr không có trách nhiệm với gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Lê Ngọc Bảo Tr vắng mặt không có lý do, bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng.
HĐXX xét thấy, qua xác minh thì chính quyền địa phương nơi ông Lê Ngọc Bảo Tr và bà Dương Thị Phương T sống chung xác nhận vợ chồng bà T và ông Tr có xảy ra mâu thuẫn là sự thật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông Tr và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Dương Thị Phương T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về quan hệ con chung: Bà Dương Thị Phương T xác nhận bà và ông Lê Ngọc Bảo Tr có 01 con chung là Lê Dương Bảo T - sinh ngày 14.10.2018. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Dương Thị Phương T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
HĐXX xét thấy con chung còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Tr không có mặt để trình bày nguyện vọng của mình về việc nuôi con chung, cũng như không chứng minh được điều kiện nuôi con. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Phương T về việc nuôi con, giao con chung Lê Dương Bảo T - sinh ngày 14.10.2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Dương Thị Phương T không yêu cầu ông Lê Ngọc Bảo Tr cấp dưỡng nuôi con chung; ông Lê Ngọc Bảo Tr không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.
- Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Dương Thị Phương T khai nhận vợ chồng không có tài sản chung; xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nếu sau này bà Dương Thị Phương T và ông Lê Ngọc Bảo Tr có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Dương Thị Phương T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân, gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
I. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” của bà Dương Thị Phương T đối với ông Lê Ngọc Bảo Tr.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Thị Phương T được ly hôn ông Lê Ngọc Bảo Tr.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Lê Dương Bảo T - sinh ngày 14.10.2018 cho bà Dương Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lê Ngọc Bảo Tr không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Dương Thị Phương T khai nhận không có tài sản chung, xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
II. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Dương Thị Phương T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005633 ngày 07.12.2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Dương Thị Phương T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Liên Chiểu; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu; - UBND phường M, quận S, TP Đà Nẵng; (Giấy chứng nhận kết hôn số 139 ngày 12/12/2017) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trinh |