- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị V và anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Mỹ C được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-3-2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tua
2. Ông Nguyễn Văn Khải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXX-ST ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST – HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ C, sinh năm: 2001
Địa chỉ: Ấp X, xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1985
Địa chỉ: Ấp 4, xã VĐ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Mỹ C trình bày: Vào ngày 07/10/2020 chị C và anh T có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã VĐ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do vợ chồng anh chị cùng tự nguyện.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau khi chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, cuộc sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng anh chị đã ly thân gần 01 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K (giới tính: nam), sinh ngày 16/8/2020, hiện cháu đang sống chung với chị C. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu.
Bị đơn Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không thể tiến hành ghi được lời khai của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh T.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án Tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về hôn nhân: Vào năm 2020 chị C và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VĐ, huyện Vị Thủy nên hôn nhân của vợ chồng anh chị là hợp pháp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị C và anh T đã ly thân gần 01 năm. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân kéo dài nhưng vợ chồng anh chị vẫn không thể hàn gắn được, từ đó chứng minh rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Mỹ C.
Về con chung: Chị C và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K (giới tính: nam), sinh ngày 16/8/2020, hiện cháu đang sống chung với chị C. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi con; Căn cứ vào đơn xin dành quyền nuôi con của chị C ngày 05/12/2022 có chính quyền địa phương xác nhận từ thời điểm chị C về sinh sống tại Ấp Xẻo Cui, xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang thì chị trực tiếp chăm sóc nuôi con, hiện tại chị có nghề nghiệp ổn định có đủ khả năng để chăm sóc cho con chung, tại địa phương chị luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước; Mặt khác hiện tại cháu K chưa đủ 03 tuổi, vì vậy xét thấy để không làm xáo trộn đến cuộc sống của cháu cũng như làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9; Điều 51; Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Mỹ C được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
2. Về con chung: Chị Trần Mỹ C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đăng K (giới tính: nam), sinh ngày 16/8/2020.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Mỹ C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được chuyển từ tạm ứng án phí đã nộp sang án phí theo lai thu số 0002954 phiếu lập ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi Nhận: - VKSND huyện Vị Thủy; - THADS huyện Vị Thủy; - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - UBND xã VĐ - Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Đào Thị Thủy |