vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử vắng mặt chị Trần Thị H và anh Trần Đình H.

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị H ly hôn anh Trần Đình H. Về nuôi con chung của vợ chồng: giao con chung Trần Ngọc L, sinh ngày 16/11/2012 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Trần Đình H có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về con chung"
  • Tòa quyết gì? Xử vắng mặt chị Trần Thị H và anh Trần Đình H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 23-5-2023
“V/v tranh chấp ly hôn và con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Xuân Phầu và bà Trần Thị Phúc Tuệ

- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Tô Hoài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 03/4/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1992

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: anh Trần Đình H, sinh năm 1988

Địa chỉ: thôn Đồng Phú, xã Đồng Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13/02/2023 và bản tự khai ngày 27/3/2023 chị Trần Thị H trình bày: chị và anh Trần Đình H có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vào ngày 23/12/2013. Sau khi kết hôn, vợ, chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp, hay cải vã, anh H có hành vi bạo lực đánh đập chị, từ đó chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị sinh sống và vợ chồng cũng sống ly thân từ đó đến nay. Hiện tại chị thấy không còn tình cảm với anh H, nên chị mong muốn được ly hôn.

Về con chung: quá trình chung sống chị và anh Trần Đình H có một con chung Trần Ngọc L, sinh ngày 16/11/2012. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con.

Về tài sản và nợ chung: chị và anh Trần Đình H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, thông qua Ủy ban nhân dân xã Đ, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như giấy triệu tập anh H đến Tòa án để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, nhưng anh H không đến Tòa án và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình. Theo kết quả xác minh tại gia đình, bà Nguyễn Thị Q (mẹ anh H) cho biết, anh Trần Đình H, là con trai của bà, có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện Tuyên Hóa. Hiện tại con trai bà đi làm ăn xa, bà là người đã trực tiếp nhận giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án gửi cho anh H, bà đã điện thoại báo cho H biết nhưng H trả lời không sắp xếp được công việc để về giải quyết mà yêu cầu chị H tự giải quyết vắng mặt H.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu về việc tuân theo pháp luật đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa chị Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Đình H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị Trần Thị H và anh Trần Đình H. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Trần Thị H ly hôn anh Trần Đình H. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83, 84, Luật hôn nhân và gia đình giao con Trần Ngọc L, sinh ngày 16/11/2012 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, buộc anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng; Về tài sản chung đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn, anh H phải chịu án cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn đối với anh Trần Đình H, anh H có hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, nên xác định đây là tranh chấp “ly hôn”, Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Đình H vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Vì vậy căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị Trần Thị H và anh Trần Đình H là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung, Hội đồng xét xử thấy:

Quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị H và anh H là tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Chị H xin ly hôn với anh H vì nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, thời gian sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy từ sau khi vụ án được thụ lý và trong suốt quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đối với anh H đến Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh H vẫn không có mặt và cũng không có văn bản ghi nhận ý kiến của mình gửi cho Tòa án, điều đó chứng tỏ anh H không có trách nhiệm với cuộc sống hôn nhân của vợ chồng. Vì vậy việc chị H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh H là có cơ sở nên cần căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị H ly hôn anh Trần Đình H.

Về nuôi con chung của vợ chồng: Kể từ khi vợ, chồng sống ly thân, con chung ở với chị H. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con. Mặt khác anh H thường xuyên đi làm ăn xa, nên không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Vì vậy, cần căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình để giao con chung Trần Ngọc L, sinh ngày 16/11/2012 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi của con, cần buộc anh Trần Đình H đóng góp tiền nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp.

Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Hằng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1. Xử vắng mặt chị Trần Thị H và anh Trần Đình H.

2. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị H ly hôn anh Trần Đình H.

3. Về nuôi con chung của vợ chồng: giao con chung Trần Ngọc L, sinh ngày 16/11/2012 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Trần Đình H có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi.

Không ai được ngăn cản việc đi lại, chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích của con thì một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án, quyền được yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

4. Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí dân sự: buộc chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000180 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, chị H đã nộp đủ án phí.

Buộc anh Trần Đình H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con để nộp vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ