vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004885 ngày 23/5/2023 của Chi cục Thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tuyết Minh - Nguyễn Văn Tâm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƢ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18/7/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Nhân;

2. Ông Nguyễn Hồng Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hoàng Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Tiểu Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 113/2023/TLST-HNGĐ về việc “Ly hôn” ngày 23 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 57A/2023/QĐST –HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1995;

Địa chỉ: 47/9 Nguyễn Lữ, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình

Định .

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Xóm 4, Thôn Phổ Đông, xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh

Quảng Ngãi.

Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/5/2023; bản tự khai ngày 05/6/2023, nguyên đơn chị M trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 3 năm 2019 tại UBND xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại xã Nghĩa Kỳ. Thời gian đầu, tình cảm vợ chồng đầm ấm hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh T không lo làm ăn. Gia đình cha mẹ hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Văn T nhưng anh T không có ý kiến phản hồi.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, HĐXX, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi HĐXX vào nghị án và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Việc Thẩm phán, Thư ký, HĐXX đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự: Nguyên đơn chấp hành nhưng đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành quy định theo điều 70,72 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật: Căn cứ vào Điều 21, Điều 27, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M, cho chị M được ly hôn với anh T; Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

Nguyên đơn yêu cầu “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh T được Toà án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn không có ý kiến phản hồi và không có mặt tại các buổi làm việc, xét xử. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[2.1] Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn T nguyện tìm hiểu, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Kỳ và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 03 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp, được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình chung sống chị M trình bày giữa chị và anh T bất đồng quan điểm, không hoà hợp trong tình cảm; giữa anh chị không có tiếng nói chung. Hai vợ chồng chị M và anh T đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2020 đến nay, tình cảm giữa anh chị không còn, không thể hiện được sự yêu thương, chăm sóc và không cùng nhau chia sẻ công việc, xây dựng gia đình gia đình. Tòa án mở phiên hòa giải để anh chị hàn gắn tình cảm, đoàn tụ nhưng anh T không có mặt. Như vậy, đủ chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị M và anh T là trầm trọng, đời sống chung vợ chồng trên thực tế không còn, mục đính hôn nhân giữa chị M, anh T không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, chị M được ly hôn với anh T.

Vợ chồng chị M, anh T chưa có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được quy định tại Điều 147 Bộ luât tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án .

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 27, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; áp dụng Điều 8, Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về án phí:

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004885 ngày 23/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Chị M, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án này được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ