vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Thảo N được ly hôn với ông Mai Đức A.

Về con chung: Giao cháu Mai Hoàng Đại Q, sinh ngày 12/8/2015 cho bà Phan Thị Thảo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Mai Hoàng Gia H, sinh ngày 02/06/2011, cháu Mai Hoàng Cao K, sinh ngày 16/9/2012 cho ông Mai Đức A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời các bên không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Thị Thảo N - Ông Mai Đức A"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Thảo N được ly hôn với ông Mai Đức A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-02-2023.
V/v: “Ly hôn; tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Hoạch.

2. Ông Đinh Xuân Dậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 923/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn; Tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thảo N, sinh năm 1991.

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số A, đường B, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Mai Đức A, sinh năm 1990.

Hộ khẩu thường trú: Xóm A, khu B, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị Thảo N trìnah bày:

Bà và ông Mai Đức A tự nguyện kết hôn và đã được UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/01/2014.

Quá trình sống chung của vợ chồng bình thường. Tuy nhiên đến nay, vợ chồng thường có nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Vợ chồng thường xảy ra cãi vã, không tôn trọng nhau và có những lời nói xúc phạm đến danh dự lẫn nhau. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vẫn không giải quyết được. Hiện nay bà và ông Đức A không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm của bà và ông Đức A đối với nhau không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình cho bà và ông Mai Đức A.

Về con chung: Bà và ông Đức A có 03 con chung là cháu Mai Hoàng Gia H, sinh ngày 02/06/2011, cháu Mai Hoàng Cao K, sinh ngày 16/9/2012 và cháu Mai Hoàng Đại Q, sinh ngày 12/8/2015. Khi ly hôn bà sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và giao cháu H và cháu K cho ông Đức A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Mai Đức A vắng mặt:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đức A tới trụ sở Tòa án để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông Đức A đều vắng mặt và cũng không có trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà N.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phan Thị Thảo N. Cho bà N được ly hôn với ông Mai Đức A.

Về con chung: Bà N và ông Đức A có 03 con chung là cháu Mai Hoàng Gia H, sinh ngày 02/06/2011, cháu Mai Hoàng Cao K, sinh ngày 16/9/2012 và cháu Mai Hoàng Đại Q, sinh ngày 12/8/2015. Giao cháu Q cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu H và cháu K cho ông Đức A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Bà N khai không có.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc bà N phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn bà Phan Thị Thảo N có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Mai Đức A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thảo N và ông Mai Đức A tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà N xác định vợ chồng có mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, dẫn đến cãi vã xung đột không hòa giải được. Hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Mai Đức A. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ cho các bên nhưng bà N cương quyết ly hôn với ông Đức A; ông Đức A không đến Tòa án để tham gia hòa giải, thể hiện sự không tích cực phối hợp trong việc giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng. Điều này chứng tỏ, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đức A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà N được chấp nhận.

Về con chung: Bà N và ông Đức A có 03 con chung là cháu Mai Hoàng Gia H, sinh ngày 02/06/2011, cháu Mai Hoàng Cao K, sinh ngày 16/9/2012 và cháu Mai Hoàng Đại Q, sinh ngày 12/8/2015. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và giao cháu H và cháu K cho ông Đức A trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Q có nguyện vọng được sống chung với bà N, cháu H và cháu K có nguyên vọng được chung sống với ông Đức A. Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện ông Mai Đức A đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và cháu K và bà Phan Thị Thảo N đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đức A đến Tòa án làm việc tuy nhiên ông Đức A đều vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của bà N. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Mai Hoàng Đại Q cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Mai Hoàng Gia H và cháu Mai Hoàng Cao K cho ông Đức A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà N không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng nuôi con, ông Đức A cũng không có ý kiến trình bày nên tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Phan Thị Thảo N và Ông Mai Đức A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Đức A không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

Về nợ chung: Bà N khai không có, ông Đức A không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bà N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Thảo N được ly hôn với ông Mai Đức A.

2. Về con chung: Giao cháu Mai Hoàng Đại Q, sinh ngày 12/8/2015 cho bà Phan Thị Thảo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Mai Hoàng Gia H, sinh ngày 02/06/2011, cháu Mai Hoàng Cao K, sinh ngày 16/9/2012 cho ông Mai Đức A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Phan Thị Thảo N và ông Mai Đức A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Đức A không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

4. Về nợ chung: Bà N khai không có, ông Đức A không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Phan Thị Thảo N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0001680 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà N đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị Thảo N, ông Mai Đức A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ