vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lương Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Trường G.

Về án phí: Chị Lương Thị Ch phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Lương Thị Ch đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000270 ngày 29-11-2022 của Chi cục thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị C và Nguyễn Trường G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lương Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Trường G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN- TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lưu Việt Trung

- Bà Nguyễn Thị Mai Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2022/TLST - HNGĐ ngày 29-11-2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 03/TB-TA, ngày 14-3-2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Thị Ch, sinh năm 1982 – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1977 - vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn TĐ, xã VT, huyện TY, tỉnh Yên Bái

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18-11-2022 và bản tự khai nguyên đơn chị Lương Thị Ch trình bày:

Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Trường G tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện TY, tỉnh Yên Bái (Giấy đăng ký số: 21 ngày 29-12-1999). Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, anh Giang luôn nghi ngờ chị nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau khiến cho cả hai vợ chồng đều mệt mỏi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Trường G không còn nên chị xin ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Trường S (sinh ngày 23-11-2000) và cháu Nguyễn Văn N (sinh ngày 08-8-2004) các cháu đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Chị Lương Thị Ch xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Trường G được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Lương Thị Ch đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, chị Ch có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Trường G có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn TĐ, xã VT, huyện TY, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị Ch thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Nguyên đơn chị Lương Thị Ch có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Trường G đã được giao nhận, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Lương Thị Ch và anh Nguyễn Trường G là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Trường G đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình lẩn tránh nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị Lương Thị Ch và anh Nguyễn Trường G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, chị Lương Thị Ch vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn và xác định tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, có căn cứ cho chị Lương Thị Ch được ly hôn với anh Nguyễn Trường G theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Lương Thị Ch và anh Nguyễn Trường G có 02 con chung là cháu Nguyễn Trường S (sinh ngày 23-11-2000) và cháu Nguyễn Văn N (sinh ngày 08-8-2004) các cháu đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về chia tài sản: Chị Lương Thị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Lương Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Lương Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Trường G.

2. Về án phí: Chị Lương Thị Ch phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Lương Thị Ch đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000270 ngày 29-11-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Lương Thị Ch đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ