vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thuý L được ly hôn anh Nguyễn Đình D.

Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Thuý L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đình Minh Hùng, sinh ngày 02/8/2020, giao cho anh Nguyễn Đình D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình Minh Huy, sinh ngày 3/4/2017. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị L và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thuý L được ly hôn anh Nguyễn Đình D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17/5/2023
V/v: Ly hôn giữa chị L với anh D.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Dung, bà Vũ Thị Lan Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 14/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thuý L, sinh năm 1992. (có mặt)

Quê quán: Xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú và có HKTT: Khu phố Đa Tiện, phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1992. (đề nghị xử vắng mặt)

Cư trú: Khu phố Đa Tiện, phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của các đương sự có trong hồ sơ cũng như lời khai của chị L tại phiên toà thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Đỗ Thị Thuý L kết hôn với anh Nguyễn Đình D vào ngày 12/9/2016, trước khi kết hôn có tìm hiểu, tự nguyện và đã đăng ký tại UBND xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành (nay là phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành), tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống với nhau ngay, chung sống cùng với gia đình nhà chồng, tình cảm ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn.

Theo phía chị L trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do anh D mải chơi bời cờ bạc, không chịu làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Anh D trong mối quan hệ vợ chồng cũng có biểu hiện không chung thuỷ làm cho chị thiếu niềm tin vào tình cảm vợ chồng. Khi vợ chồng có mâu thuẫn như vậy chị có khuyện bảo thì anh D lại quay ra chửi bới, đánh đập chị nên càng ngày vợ chồng mâu thuẫn với nhau càng trầm trọng. Kể từ tháng 6/2022 đến nay vợ chồng đã ly thân không còn chung sống cùng nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Toà án giải quyết để chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Minh Huy, sinh ngày 3/4/2017 và cháu Nguyễn Đình Minh Hùng, sinh ngày 02/8/2020. Kể từ thời điểm vợ chồng ly thân thì cháu Huy ở cùng với chị, còn cháu Hùng ở cùng với anh D. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con, trường hợp nếu anh D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Huy và để chị nuôi cháu Hùng thì chị cũng nhất trí. Việc cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng chị tự thoả thuận, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L không yêu nghị giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Đình D lời khai có trong hồ sơ vụ án trình bày: Anh D cũng xác nhận mối quan hệ hôn nhân giữa chị L với anh như chị L đã trình bày là đúng. Theo anh do vợ chồng bất đồng nhiều trong cuộc sống chung nên cũng đã có nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Kể từ tháng 6/2022 chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân mặc dù cũng đã được gia đình hai bên hoà giải động viên nhiều nhưng vẫn không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng vẫn trầm trọng. Nay chị L có yêu cầu ly hôn, anh D thấy rằng vợ chồng cũng không thể đoàn tụ được nên anh cũng đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của chị L. Anh D cũng có đơn đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt anh trong toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ việc, vắng mặt tại phiên toà xét xử.

Về con chung: Anh D xác nhận vợ chồng có 02 con chung các là cháu Nguyễn Đình Minh Huy, sinh ngày 3/4/2017 và cháu Nguyễn Đình Minh Hùng, sinh ngày 02/8/2020 như chị L đã trình bày. Ly hôn anh nhất trí giao cháu Hùng cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh nuôi cháu Huy. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thống nhất, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh D không đề nghị giải quyết.

Tại phiên tòa chị L vẫn giữ yêu cầu như trong thời gian chuẩn bị xét xử chị đã đề nghị, chị không bổ sung, thay đổi gì. Chị cũng đồng ý với ý kiến về việc chăm nuôi con chung sau khi ly hôn như ý kiến của anh D, chị nuôi cháu Hùng, anh D nuôi cháu Huy. Đối với anh D vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tiến hành tố tụng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về vụ án:

Về tố tụng: Quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác và nguyên đơn trong vụ kiện đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự, không có vi phạm phải kiến nghị khắc phục. Đối với bị đơn là anh D có đề nghị vắng mặt trong quá trình tố tụng, vắng mặt tại phiên toà nên việc Tòa án đưa vụ án ra xét xử và xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị Đỗ Thị Thuý L được ly hôn anh Nguyễn Đình D. Về con chung: Giao cháu Hùng cho chị L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, giao cháu Huy cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ không đặt ra xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu. Chị L, anh D có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đỗ Thị Thuý L được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự nên việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L là đúng quy định của pháp luật. Đối với anh Nguyễn Đình D trong thời gian chuẩn bị xét xử có đơn đề nghị từ chối tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hoà giải. Tại phiên tòa anh D cũng đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 207, 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung giải quyết:

Về mối quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thuý L và anh Nguyễn Đình D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành (nay là phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành), tỉnh Bắc Ninh vào ngày 12/9/2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc được thời gian thì cũng đã nảy sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do giữa hai vợ chồng có nhiều bất đồng trong cách duy trì cuộc sống chung. Chị L cho rằng anh D mải chơi bời cờ bạc không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ chồng cũng không tin tưởng nhau trong đời sống tình cảm, mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng và kéo dài, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc. Kể từ thời điểm tháng 6/2022 vợ chồng đã không còn chung sống với nhau nữa, cả hai đều thấy tình cảm vợ chồng đã hết. Nay cả chị L và anh D đều thuận tình ly hôn, tuy nhiên anh D vắng mặt tại phiên toà nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị Đỗ Thị Thuý L được ly hôn với anh Nguyễn Đình D.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là các cháu Nguyễn Đình Minh Huy, sinh ngày 3/4/2017 và cháu Nguyễn Đình Minh Hùng, sinh ngày 02/8/2020. Ly hôn cần chấp nhận ý kiến của hai bên về thoả thuận nuôi con chung, xử cho chị L được trực tiếp nuôi cháu Hùng, anh D được trực tiếp nuôi cháu Huy. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị L, anh D không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự, các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thuý L được ly hôn anh Nguyễn Đình D.

2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Thuý L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đình Minh Hùng, sinh ngày 02/8/2020, giao cho anh Nguyễn Đình D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình Minh Huy, sinh ngày 3/4/2017. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị L và anh D không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản việc thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thuý L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn mà chị L đã nộp theo biên lai thu số 0005913 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

5. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ