- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Danh Thị Diễm M yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Quốc V"
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-02-2023 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Phước
2. Ông Nguyễn Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện V kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, ta ̣i tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số: 439/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Danh Thị Diễm M, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp BN, xã BA, huyện KL, tỉnh Kiên Giang. Số điện thoại liên hệ:
0765.477.xxx
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp TB, xã VT, huyện ThS, tỉnh An Giang. Số điện thoại liên hệ:
0325.929.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Danh Thị Diễm M trình bày:
Chị và anh V do tự tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã VT, huyện ThS, tỉnh An Giang. Trong thời gian chung sống, anh V không lo tu chí làm ăn, chăm lo cho gia đình mà chỉ thích chơi bời, nhậu nhẹt, mặc dù chị M đã cố gắng khuyên nhủ nhưng anh V không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng lúc càng trầm trọng. Nay nhận thấy nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên chị M yêu cầu ly hôn với anh V.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 13/9/2020. Hiện cháu Thái đang sống chung với anh V nên khi ly hôn chị M đồng ý giao con cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng, chị M không cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để chị M và anh V thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V nhưng anh V đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh V nhưng anh V tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Tại phiên tòa: Chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh V. Về con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 13/9/2020 hiện nay đã mất nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện V Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Anh V vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn anh V;về con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 13/9/2020 hiện nay đã mất nên không xem xét; tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Danh Thị Diễm M và anh Nguyễn Quốc V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 129, do UBND xã VT, huyện ThS, tỉnh An Giang cấp ngày 03 tháng 10 năm 2019). Anh Nguyễn Quốc V có hộ khẩu thường trú tại: Ấp TB, xã VT, huyện ThS, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Nguyễn Quốc V vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Xét việc tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh V xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 03/10/2019 tại UBND xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo chị M trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do anh V không tu chí làm ăn, không quan tâm gia đình mặc dù chị M nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh V không thay đổi nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng lúc càng trầm trọng. Nhận thấy, anh V không có trách nhiệm với gia đình, nếu tiếp tục chung sống thì vợ chồng cũng không hạnh phúc nên chị M yêu cầu ly hôn với anh V.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để hai bên có cơ hội hàn gắn nhưng anh V đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị M cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị M là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M, chị M được ly hôn anh V.
Về con chung: Chị M trình bày trong quá trình chung sống chị và anh V có một con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 13/9/2020, trước đây do anh V nuôi nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì cháu T đã mất nên chị M không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về tài sản chung: Chị M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh V vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về nợ chung: Theo trình bày của chị M không có nợ chung, anh V vắng mặt và cũng không có văn bản nêu ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về án phí: Chị Danh Thị Diễm M phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Danh Thị Diễm M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị Diễm M được ly hôn anh Nguyễn Quốc V.
Giấy chứng nhận kết hôn số 129, do UBND xã VT, huyện ThS, tỉnh An Giang cấp ngày 03 tháng 10 năm 2019 cho chị Danh Thị Diễm M và anh Nguyễn Quốc V không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Chị Danh Thị Diễm M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009430 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, chị M không phải nộp thêm.
Anh Nguyễn Quốc V không phải chịu án phí.
Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện Thoại Sơn (1); - THADS huyện Thoại Sơn (1); - UBND xã Vĩnh Trạch (1); - Các đương sự (2); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Linh |