vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Bùi Văn H.

Về con chung: Giao cháu Bùi Thị M, sinh ngày 15/11/2007; Bùi Thị Minh E, sinh ngày 14/7/2012 và Bùi Minh P, sinh ngày 19/5/2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N xin ly hôn anh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Bùi Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23/02/2023
V/v: “Ly hôn, tranhchấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Thuận

2. Ông Đinh Văn Tân

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N; Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

-Bị đơn: Anh Bùi Văn H; Sinh năm: 1988

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận đến năm 2014 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ. Thêm vào đó, anh H thường xuyên uống rượu và thường xuyên đánh đập vợ con. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi được tính nết. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể không thể chung sống được nữa nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Bùi Thị M, sinh ngày 15/11/2007; Bùi Thị Minh E, sinh ngày 14/7/2012 và Bùi Minh P, sinh ngày 19/5/2020. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 3 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2022, anh Bùi Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và anh Nguyễn Thị N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận bình thường. Anh H thừa nhận là có hay giao lưu bạn bè và thỉnh thoảng có uống rượu nhưng chưa bao giờ anh có hành vi đánh đập vợ con. Nay chị N xin ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên mong muốn vợ chồng được đoàn tụ.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung như chị N đã trình bày ở trên. Nếu chị N nhất quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý giao cả 03 con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

Về tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Bùi Văn Hậ; Về con chung: Giao cháu Bùi Thị M, sinh ngày 15/11/2007; Bùi Thị Minh E, sinh ngày 14/7/2012 và Bùi Minh P, sinh ngày 19/5/2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như VKS được biết.

. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh H xin vắng mặt nên tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh H theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

. Anh H cũng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hòa giải hai lần nhưng đều vắng nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.

. Tại phiên tòa hôm nay, chị N và anh H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt chị N và anh H.

. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Bùi Văn H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nhưng đến năm 2014 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống không hạnh phúc. Thêm vào đó, anh H cũng thường xuyên uống rượu và có những hành vi chửi bới, dọa nạt vợ con. Việc này, đã được chính quyền xã T xác nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương. Mặc dù anh H yêu cầu được đoàn tụ nhưng chị N nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mực trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Bùi Văn H.

. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung. Ly hôn, cả chị N và anh H đều yêu cầu giao cả 03 con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị N và anh H. Giao cháu Bùi Thị M, sinh ngày 15/11/2007; Bùi Thị Minh E, sinh ngày 14/7/2012 và Bùi Minh P, sinh ngày 19/5/2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

. Về tài sản: Chị N và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

. Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Bùi Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị M, sinh ngày 15/11/2007; Bùi Thị Minh E, sinh ngày 14/7/2012 và Bùi Minh P, sinh ngày 19/5/2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0007845 ngày 28/10/2022. Chị N đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Nguyễn Thị N và anh Bùi Văn H. Chị N và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ