- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị N - Nguyễn Bá P "ly hôn""
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn ông Nguyễn Bá P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày 04-3-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tuyển.
Bà Phan Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký Tòa án.
Ngày 04 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 326/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Bá P tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 21/5/2008 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Theo bà N trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu đến gần đây khoản tháng 11/2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Nguyên nhân vì vợ chồng không tin tưởng sự chung thủy, nghi ngờ lẫn nhau; ông P ngoại tình với người khác nhưng nhiều lần ghen vô cớ, có lần đập điện thoại bà N, đe dọa đánh bà N; ông P đưa tiền quá ít không đủ chi phí sinh hoạt gia đình; hiện bà N không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu giải quyết ly hôn ông P. Theo ông P trình bày thừa nhận vợ chồng cũng có xảy ra mâu thuẫn như bà N trình bày, bà N nói đi làm nhưng thường hay về khuya, hay ăn nhậu bên ngoài. Tuy N ông còn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên là Nguyễn Bá T – sinh ngày 22/01/2009 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 18/9/2015 hiện đang sống cùng bà N. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Các bên đương sự không ai có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các con chung đều viết giấy trình bày nguyện vọng ở với mẹ. Khi đến Tòa, bà N đưa giấy cho ông P xem thì ông P xem xong cất giữ luôn không chịu trả lại nên không có nộp cho Tòa án giấy nguyện vọng của con được. Bà N cam kết sẽ nộp giấy khác. Ông P không đồng ý ly hôn và thừa nhận có giữ giấy trình bày nguyện vọng của con viết, nội dung đều ghi ở với mẹ nên ông P giữ lại để về nhà hỏi lại ý kiến con, không đồng ý nộp cho Tòa án.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị N nộp đơn khởi kiện ngày 21/11/2022, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Nguyễn Bá P có nơi cư trú tại xã H, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án.
Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà Lê Thị N và ông Nguyễn Bá P có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà N thì nguyên nhân vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã là vì trong cuộc sống không còn tin tưởng nhau mà nghi ngờ lẫn nhau, ông P chung sống nhưng không lo sinh hoạt gia đình, cũng không đưa đủ tiền để bà N đủ chi phí sinh hoạt chung trong gia đình; bà N không còn tình cảm vợ chồng, không thể chung sống với ông P có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu ly hôn. Ông P cũng thừa nhận giữa vợ chồng thời gian gần đây thường xuyên mâu thuẫn, ông P cũng nói chuyện khuyên can, xin lỗi để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà N vẫn không đồng ý. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông P đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị N được ly hôn ông Nguyễn Bá P.
Về nuôi con chung: Bà N và ông P có hai người con chung tên là Nguyễn Bá T – sinh ngày 22/01/2009 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 18/9/2015. Xét yêu cầu trực tiếp nuôi cả hai con của bà N thì hiện bà N có nghề nghiệp (buôn bán ở chợ H) và có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi cả hai con; mặt khác các con chung hiện chung sống với nhau, tình cảm anh em gắn bó, không thể tách rời và đều có nguyện vọng ở với bà N, nên để đảm bảo sự P triển tốt nhất về mọi mặt của các con chung, HĐXX chấp nhận yêu cầu, giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐST theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn ông Nguyễn Bá P.
2. Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, giao hai con chung tên là Nguyễn Bá T – sinh ngày 22/01/2009 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 18/9/2015 cho bà Lê Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
Ông Nguyễn Bá P được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quốc Hội. Bà Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0005903 ngày 24/11/2022 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND H (ĐKKH số 50/2008); - VKSND huyện Tây Hòa; - Chi cục THADS huyện Tây Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thành Vinh |