vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Phạm Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số:15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-4-2023
V/v tranh chấp xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Thu Thảo.

- Ông Lê Văn Thƣởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đai diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hƣơng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2023/TLST-HN ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HN ngày 15 tháng 3 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1987 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Phú Yên.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Ni, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện đề ngày 02-02-2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Chị Nguyễn Thị S và anh Phạm Văn N chung sống với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang vào ngày 28-5-2014. Thời gian đầu sống chung, cuộc sống vợ chồng chúng tôi vẫn đầm ấm, hạnh phúc. Đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh N rượu chè, cờ bạc, không lo làm ăn phụ giúp gia đình, chị đã nhiều lần cho anh N cơ hội để anh sửa đổi, mong hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt. Chị và anh N đã sống ly thân từ cuối năm 2014 cho đến nay. Nay chị S yêu cầu ly hôn với anh N.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Thị Anh T, sinh ngày 22/01/2007, hiện nay đang sống chung với anh N. Khi ly hôn, chị S đồng ý giao con chung tên Phạm Thị Anh T cho anh N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chị S không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

*Bị đơn anh Phạm Văn N:

Quá trình thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án đã tiến hành tống đạt đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng anh N không đến tham dự và cũng không gửi ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị S cho Tòa án.

Tại phiên toà hôm nay, chị S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt không có lý do.

*Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:

- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S, cho chị S ly hôn với anh N, giao con chung tên Phạm Thị Anh T, sinh ngày 22/01/2007 cho anh N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chị S chưa phải cấp dưỡng cho con chung tên Phạm Thị Anh T, do anh N chưa có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, chị S có đơn xin vắng mặt; anh N vắng mặt tại phiên tòa, không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị S, anh N là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị S và anh N chung sống với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; anh N có hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên chị S khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Tân Phước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ tranh chấp “Xin ly hôn”.

Xét tình cảm vợ chồng: Thời gian đầu chị S và anh N chung sống đầm ấm, hạnh phúc. Đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh N rượu chè, cờ bạc, không lo làm ăn phụ giúp gia đình, chị đã nhiều lần cho anh N cơ hội để anh sửa đổi, mong hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt. Chị và anh N đã sống ly thân từ cuối năm 2014 cho đến nay. Anh N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản thể hiện ý chí của mình. Nay chị S yêu cầu ly hôn với anh N là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S, cho chị S được ly hôn với anh N là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Thị Anh T, sinh ngày 22/01/2007, hiện nay đang sống chung với anh N. Xét thấy, để ổn định cuộc sống và tâm sinh lý cho cháu T, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng cho con: Chị S chưa phải cấp dưỡng cho con chung tên Phạm Thị Anh T, do anh N chưa có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S.

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Phạm Văn N.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thị Anh T, sinh ngày 22/01/2007 cho anh Phạm Văn N tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị S có quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Chị S không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003387 ngày 02-02-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như chị S đã thi hành xong án phí.

4. Quyền kháng cáo: Chị S, anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ