- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim C. được ly hôn với anh Lộc Văn H..
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày 14/3/2023 “V/v: Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Cao Lâm và ông Hoàng Văn Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 378/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C., sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lộc Văn H. , sinh năm 1985
Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C. và anh Lộc Văn H. kết hôn với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 11/12/2008 Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hiện đang sống ly thân. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 9/2022 chị Nguyễn Thị Kim C. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lộc Văn H..
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C. trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên đánh cãi nhau, mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Tháng 4 năm 2011 chị đưa con về sinh sống tại Thôn B, xã S, huyện S. Nay chị có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lộc Văn H..
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lộc Huy Đ., sinh ngày 03/01/2010 và Lộc Bảo A, sinh ngày 01/7/2015, các cháu hiện đang ở cùng chị tại Thôn B, xã S, huyện S. Chị C. có quan điểm sau khi ly hôn được nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh H. cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Lời khai các cháu Lộc Huy Đ. và Lộc Bảo A có trong hồ sơ thể hiện nguyện vọng của các cháu là muốn được ở với mẹ.
Tại bản tự khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Lộc Văn H. trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Kim C. kết hôn với nhau vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, được sự chấp thuận của hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện S. Sau ngày cưới vợ chồng đi làm ăn xa để phát triển kinh tế. Cuộc sống chung của hai vợ chồng bình thường, không có gì xảy ra. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lộc Huy Đ., sinh ngày 03/01/2010 và Lộc Bảo A, sinh ngày 01/7/2015, các cháu hiện đang ở cùng với anh chị tại nhà riêng ở xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Về tài sản: Có một ngôi nhà xây trên đất của bố mẹ vợ cho ở xã S, huyện S.. Về đất đai chung: Không có. Về công nợ chung: Không có.
Kết quả xác minh thể hiện: Anh Lộc Văn H. là công dân có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố A, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Anh Lộc Văn H. và chị Nguyễn Thị Kim C. kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị đã có thời gian sinh sống và làm việc tại tổ dân phố A, thị trấn S. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị C. chuyển khẩu về Sơn Nam từ đó không về địa phương, còn anh H. vẫn có hộ khẩu thường trú và ở tại tại tổ dân phố A. Do ở chung nhà với bà H. (mẹ anh H.) nên thi thoảng anh H. vẫn về nhà với mẹ xong lại đi làm. Khi đi làm anh H. không báo chính quyền địa phương, nên hiện tại anh H. đi đâu làm gì cụ thể địa phương không nắm được.
Anh Lộc Văn H. hiện đi làm ăn xa, không có mặt ở địa phương, không xác định được địa chỉ. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương không triệu tập được anh H. đến trụ sở Tòa án để tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Kim C. và anh Lộc Văn H. kết hôn vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện S là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn, hiện sống ly thân. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX xử cho chị Nguyễn Thị Kim C. được ly hôn với anh Lộc Văn H.; về con chung: giao cháu là Lộc Huy Đ., sinh ngày 03/01/2010 và Lộc Bảo A, sinh ngày 01/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim C. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại Điều 81, 82 luật Hôn nhân và gia đình; về tài sản, đất đai, công nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Kim C. đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lộc Văn H. và giao nuôi con chung; không đề nghị giải quyết về tài sản, công nợ chung. Do vậy quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Căn cứ kết quả xác minh thể hiện bị đơn anh Lộc Văn H. có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố A, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, hiện anh H. đi làm ăn xa, không xác định được địa chỉ. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh H. chỉ gửi bản tự khai mà không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ và trốn tránh nghĩa vụ, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại các Điều 28, 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C. vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lộc Văn H. vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C. và anh Lộc Văn H. kết hôn với nhau trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 11/12/2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, hiện tại anh H. không có mặt ở địa phương. Tháng 9/2022 chị C. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lộc Văn H..
Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Thị Kim C. và anh Lộc Văn H. thời gian đầu hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, hiện vợ chồng sống ly thân nên xác định hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp nhận đýn khởi kiện xử cho chị Nguyễn Thị Kim C. được ly hôn với anh Lộc Văn H..
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim C. và anh Lộc Văn H. có 02 con chung là cháu Lộc Huy Đ., sinh ngày 03/01/2010 và cháu Lộc Bảo A, sinh ngày 01/7/2015.
Xét thấy, cháu Lộc Huy Đ. và cháu Lộc Bảo A là con chung của chị Nguyễn Thị Kim C. và anh Lộc Văn H. nên anh chị đều cùng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các cháu. Quá trình giải quyết chị C. có quan điểm đề nghị giao con chung cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, cháu Huy Đ. và Bảo A. cùng có nguyện vọng được ở với mẹ, anh H. hiện không có mặt ở địa phương. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn, xét nguyện vọng của chị C. và các con chung, cần giao cháu Lộc Huy Đ., sinh ngày 03/01/2010 và cháu Lộc Bảo A, sinh ngày 01/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim C. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Lộc Văn H. không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị C. không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim C. không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 266, 271, 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 - Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim C. được ly hôn với anh Lộc Văn H..
2. Về con chung: Giao cháu là Lộc Huy Đ., sinh ngày 03/01/2010 và Lộc Bảo A, sinh ngày 01/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim C. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lộc Văn H. không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002296 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương. Chị Nguyễn Thị Kim C. đã nộp đủ án phí của vụ án.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TQ; - VKSND huyện SD; - Chi cục THADS huyện SD; - UBND thị trấn S (Nơi ĐKKH); - UBND xã S; - Các đương sự; - Lưu VT- HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Hồng Chiến |