- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N Đ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày 13 - 4 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N Đ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Phúc Lâm.
2. Ông Lê Anh Thơ.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; địa chỉ cư trú: Xóm 10, xã K S, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: Xóm 10, xã K S, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Đặng Văn T vào ngày 15 tháng 11 năm 2021, có đăng ký tại UBND xã K S, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, suy nghĩ, quan điểm không hợp nhau. Ngoài ra, có mâu thuẫn giữa chị và bên gia đình chồng. Hai vợ chồng ly thân nhau từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Chị không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với anh Trọng.
Về con chung: Chị và anh Đặng Văn T có 01 con chung: Đặng Tường V, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2022. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Trọng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày tháng năm, địa điểm đăng ký kết hôn, thời gian chung sống, mâu thuẫn đúng như chị Hạnh trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân nặng nề, cãi vả, làm tổn thương nhau. Hai vợ chồng ly thân nhau từ ngày 15 tháng 01 nảm 2023 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay anh không còn tình cảm với chị Hạnh nên đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung: Đặng Tường V, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2022. Ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Hạnh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng đúng quy định; Việc điều tra thu thập chứng cứ, việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Đặng Văn T;
Về con chung: Giao con chung Đặng Tường V, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Trọng do chị Hạnh không yêu cầu.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giành quyền nuôi con với anh Đặng Văn T có nơi cư trú tại xã K S, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
2.1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Văn T kết hôn ngày 15 tháng 11 năm 2021, có đăng ký tại UBND xã K S, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 47/2021 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, lối sống, quan điểm hai người không hợp nhau. Ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa con dâu với gia đình chồng. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên từ tháng 01 năm 2023 đến nay vợ chồng ly thân nhau, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Chị Hạnh yêu cầu ly hôn còn anh Trọng đồng ý. Xét thấy, hôn nhân của chị Hạnh và anh Trọng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đặng Văn T.
2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Văn T có một con chung: Đặng Tường V, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2022. Ly hôn, cả chị Hạnh và anh Trọng đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con. Nguyện vọng của chị Hạnh và anh Trọng đều chính đáng. Tuy nhiên, cháu Vy đang độ tuổi dưới 36 tháng tuổi để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho việc phát triển của cháu nên cần giao cho chị Hạnh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Hạnh không yêu cầu nên không xem xét. Trường hợp, chị Hạnh có yêu cầu cấp dưỡng thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có căn cứ anh Trọng có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Hạnh có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị Hạnh và anh Trọng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Hạnh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đặng Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Đặng Tường V, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đặng Văn T do chị Hạnh không yêu cầu.
Anh Đặng Văn T có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có căn cứ anh Trọng có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Hạnh có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004885 ngày 13/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. (Chị Hạnh đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện N Đ; - Chi cục THADS huyện N Đ; - UBND xã K S; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |