vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Bùi H. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T tự khai có 04 (bốn) con chung là Bùi Công C, sinh ngày 01-01-1985; Bùi Thị Mỹ H, sinh ngày 01-01-1986; Bùi Hoàng P, sinh ngày 01-01-1987; Bùi Thị Chúc L, sinh ngày 05-5-1988. Hiện nay các con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu T và Bùi Hoàng E"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02-3-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Duy Tân.

Ông Lý Thanh Chiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 163/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1967; Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi H, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 5 năm 2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tvà ông Bùi H vào năm 1983 chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới nhưng không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân của bà T và ông E được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, bà Thuỷ và ông E chung sống tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn bà Tvà ông E chung sống hạnh phúc nhưng đến ngày 15 tháng 6 năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống dẫn đến việc cãi vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, khi xảy ra mâu thuẫn bà Tđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng hàn gắn không được, càng ngày cuộc sống vợ chồng càng mâu thuẫn nên bà Tđã bỏ đi Thành phố Hồ Chí Minh làm việc từ năm 2018 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị Thu T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Bùi H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Thuỷ và ông E có 04 (bốn) con chung là Bùi Công Chánh, sinh ngày 01-01-1985; Bùi Thị Mỹ Hương, sinh ngày 01-01-1986; Bùi Hoàng Phúc, sinh ngày 01-01-1987; Bùi Thị Chúc Ly, sinh ngày 05-5-1988. Hiện nay các con chung đều đủ 18 (mười tám) tuổi có công việc làm ổn định.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu Tvà ông Bùi H Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu Ttự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Bùi H: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ttại Thông báo thụ lý vụ án số: 163/TB-TLVA, ngày 02 tháng 11 năm 2022 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Bùi H, cũng như đã triệu tập hợp lệ ông E đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng ông E đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông E nhưng ông E không gửi văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt), bị đơn ông Bùi H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tcùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tnộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tvà thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tyêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa bà Tvà bị đơn ông Bùi H; có địa chỉ: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng, xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Txác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 1983 nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo bà Ttrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, ông E hay ghen tuông và đánh bà Thủy. Bà Tvà ông E đã sống ly thân hơn 05 (năm) năm nay, bà Tthì làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, còn ông E thì sống tại ấp Tân Phước A2, xã Long Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, khi bà Tvà ông E sống ly thân thì bà Thủy, ông E không quan tâm, chăm cho ai, mỗi người hiện nay có cuộc sống riêng. Nay bà Nguyễn Thị Thu Tyêu cầu Toà án giải quyết cho bà Tđược ly hôn với ông Bùi H.

Xét thấy, bà Nguyễn Thị Thu Tvà ông Bùi H sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1983 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Mặc khác, theo điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước 03 tháng 01 năm 1987 là không bắt buộc nên nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 được pháp luật công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp, quan hệ hôn nhân hợp pháp được công nhận kể từ thời điểm các bên xác lập quan hệ sống chung với nhau như vợ chồng. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thu Tvà ông Bùi H xác lập vào năm 1983 là quan hệ hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận là hợp pháp (phù hợp về thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân, đều tổ chức cưới hỏi để thông báo về việc xác lập quan hệ hôn nhân).

Trong quá trình chung sống theo bà Ttrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, ông E hay ghen tuông và đánh bà T. Bà T và ông E đã sống ly thân hơn 05 (năm) năm nay. Khi xảy ra mâu thuẫn thì bà Thủy, ông E đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án bà Tvẫn cương quyết xin ly hôn với ông E. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà Thủy, ông E đã đến mức trầm trọng, hiện nay bà Tvà ông E không còn sống chung với nhau như vợ chồng, không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cầu xin ly hôn bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

Về con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ttự khai có 04 (bốn) con chung là Bùi Công Chánh, sinh ngày 01-01-1985; Bùi Thị Mỹ Hương, sinh ngày 01-01-1986; Bùi Hoàng Phúc, sinh ngày 01-01-1987; Bùi Thị Chúc Ly, sinh ngày 05-5-1988. Hiện nay Bùi Công Chánh; Bùi Thị Mỹ Hương; Bùi Hoàng Phúc; Bùi Thị Chúc Ly đã đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tvà bị đơn ông Bùi H tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Ttự khai không có, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tphải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Bùi H.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T tự khai có 04 (bốn) con chung là Bùi Công C, sinh ngày 01-01-1985; Bùi Thị Mỹ H, sinh ngày 01-01-1986; Bùi Hoàng P, sinh ngày 01-01-1987; Bùi Thị Chúc L, sinh ngày 05-5-1988. Hiện nay các con chung đều đủ 18 (mười tám) tuổi có công việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Bùi H tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tphải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo biên lai thu tiền số 0005231 ngày 28 tháng 10 năm 2022 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Tđã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ