vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L ly hôn với anh Lý Văn S. Về con chung: Giao con chung Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016 cho chị Vi Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Vi Thị L và anh Lý Văn S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày 30-6-2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Luân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Lê Thị Hòa.

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 271/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn 8, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.

Bị đơn: Anh Lý Văn S, sinh năm 1984.

Nơi ĐKHKTT: Thôn 8, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông.

Chỗ ở hiện nay: Trại giam Công an tỉnh Đăk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2022, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Vi Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L và anh Lý Văn S đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2012 tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Chị L và anh S lấy nhau và đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Chị L và anh S có tìm hiểu nhau được một thời gian thì tiến đến hôn nhân. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do chị L và anh S có quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã. Mâu thuẫn trầm trọng xảy ra vào khoảng 04 giờ 15 phút sáng ngày 04/01/2022 khi chị L và các con đang nằm ngủ thì anh S định giết chị L nhưng chị L đã tự vệ được và bị đâm 03 nhát vào ngực, cổ tay, được gia đình đưa đi cấp cứu kịp thời. Nhận thấy giữa chị L và anh S không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa; không thể có một cuộc hôn nhân hạnh phúc; mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lý Văn S.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Vi Thị L và anh Lý Văn S có 02 con chung là Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016. Chị có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung đến đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vi Thị L không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng anh Lý Văn S hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đăk Nông, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút đã tiến hành phối hợp với Trại giam Công an tỉnh Đăk Nông về việc tống đạt văn bản tố tụng; tại bản tự khai vào ngày 22/12/2022 anh Lý Văn S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn S và chị Vi Thị L kết hôn tại xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông, kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Mâu thuẫn của hai vợ chồng là do anh S nghi ngờ chị L ngoại tình và chị L không chịu ở nhà để chăm lo cho các con và bố mẹ anh S. Anh S và chị L có 02 con chung là Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016. Nay chị L yêu cầu ly hôn thì anh S hoàn toàn đồng ý. Anh S cũng đồng ý giao 02 con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung, anh S không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Lý Văn S vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; nguyên đơn chị Vi Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Vi Thị L được ly hôn với anh Lý Văn S; giao 02 con chung cho chị L nuôi dưỡng đến trưởng thành; về tài sản chung và nợ chung chị L không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và nội dung vụ án:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Vi Thị L đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được BLTTDS và các văn bản liên quan quy định. Bị đơn anh Lý Văn S hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đăk Nông, đã thực hiện việc viết bản tự khai, trình bày ý kiến; được tống đạt đầy đủ thông báo phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn anh Lý Văn S đồng thời anh S có đơn xin giải quyết vắng mặt và xét xử vắng mặt. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã tiến hành lập biên bản và làm các thủ tục đúng theo quy định của pháp luật nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.

- Về nội dung: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn với anh Lý Văn S.

Về con chung: Đề nghị HĐXX giao 02 con chung Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016 cho chị Vi Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị L không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi các con chung nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vi Thị L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị HĐXX đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Vi Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cư Jút giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung với anh Lý Văn S, anh S là bị đơn có nơi cư trú tại Thôn 8, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chị Vi Thị L có mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án, bị đơn anh Lý Văn S vắng mặt do đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đăk Nông, tuy nhiên anh S đã được viết bản tự khai, trình bày nguyện vọng và có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L và anh Lý Văn S đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2012 tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Chị L và anh S lấy nhau và đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Do vậy xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S là hôn nhân hợp pháp, việc kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên quá trình chung sống giữa chị L và anh S xảy ra mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến xô xát, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa.

Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị L không còn tình cảm đối với anh S, đồng thời anh S có hành động bạo lực đối với chị L, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu ly hôn của chị L là có cơ sở, cần chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Vi Thị và anh Lý Văn S có 02 con chung là Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016.

Hiện nay các con chung đang được chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị L có nguyện vọng nuôi các con chung là Lý Hồng Nh và Lý Hồng Q đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi các con chung. Xét thấy chị L làm công nhân, thu nhập ổn định để nuôi con mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng. Mặt khác anh Lý Văn S hiện đang bị tạm giam không thể chăm sóc các con chung nên giao các con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đảm bảo cho việc học tập cũng như phát triển toàn diện của cháu, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con là được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao các con chung Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016 cho chị Vi Thị L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị Vi Thị L không yêu cầu anh Lý Văn S cấp dưỡng nuôi các con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị Vi Thị L không yêu cầu anh Lý Văn S cấp dưỡng nuôi các con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân & gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vi Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu quan điểm về đường lối xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 19; 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L ly hôn với anh Lý Văn S.

2. Về con chung: Giao con chung Lý Hồng Nh, sinh ngày 21/7/2014 và Lý Hồng Q, sinh ngày 29/5/2016 cho chị Vi Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Chị Vi Thị L không yêu cầu anh Lý Văn S cấp dưỡng nuôi các con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân & gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vi Thị L và anh Lý Văn S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Buộc chị Vi Thị L phải chịu toàn bộ, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0000005 ngày 02/11/2022.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- STP tỉnh Đắk Nông;

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉnh Đắk Nông;

- VKSND huyện Cư Jút;

- Chi cục THA huyện Cư Jút;

- UBND xã Đ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Bá Luân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ