- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn (Bà T và ông TH)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Kiều T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà
Ông Thạch Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/01/2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Kiều T. Địa chỉ: Ấp H, thị trấn X, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Huyền Th. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2022, nguyên đơn bà Thạch Thị Kiều T trình bày:
Bà T và ông Th quen biết nhau, tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/12/2010. Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 người con chung tên Lê Khương T1, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017. Cả hai cháu đều đang sống với bà T tại ấp H, thị trấn X, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông Th không làm tròn nghĩa vụ người chồng, người cha, không biết vun vén cho cuộc sống gia đình. Mọi trách nhiệm kinh tế gia đình cũng như nuôi dạy con cái đều do một mình bà T gánh vác. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T và ông Th đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay.
Nay bà Thạch Thị Kiều T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Huyền Th.
- Về con chung: Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Lê Khương T1, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017 cho đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Huyền Th: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Lê Huyền Th, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Lê Huyền Th vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Nguyên đơn bà Thạch Thị Kiều T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Lê Huyền Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị Kiều T đối với bị đơn ông Lê Huyền Th, giải quyết cho bà Thạch Thị Kiều T và ông Lê Huyền Th ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Về con chung: Hiện nay, cháu Lê Khương T1, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017 đang do bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Thạch Thị Kiều T cũng có công việc và nguồn thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện nuôi cả hai con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết giao cháu Lê Khương T1, sinh ngày 13/12/2011 cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền quyết định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Lê Khương T1 (Do cháu T1 là trẻ khuyết tật đặc biệt nặng)
Đồng thời, giao cháu Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017 cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Huyền Th không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Thạch Thị Kiều T không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thạch Thị Kiều T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Thạch Thị Kiều T yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Kiều T yêu cầu ly hôn với ông Lê Huyền Th; Về con chung: Bà T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Khương T1 và Lê Khương N, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Thạch Thị Kiều T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn ông Lê Huyền Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Kiều T và ông Lê Huyền Th tự nguyện kết hôn, được UBND xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/12/2010 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thạch Thị Kiều T và ông Lê Huyền Th là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa bà Thạch Thị Kiều T và ông Lê Huyền Th phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tình tình không hòa hợp, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hai người đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Cho nên bà Thạch Thị Kiều T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Huyền Th. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Lê Huyền Th không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Thạch Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Huyền Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Kiều T và giải quyết cho bà Thạch Thị Kiều T được ly hôn với ông Lê Huyền Th.
Về con chung: Bà Thạch Thị Kiều T và ông Lê Huyền Th có 02 con chung là cháu Lê Khương T1, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017. Bà Thạch Thị Kiều T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Xét thấy, hiện nay cả hai cháu Lê Khương T1 và cháu Lê Khương N đang sống chung với bà Thạch Thị Kiều T và được bà Thạch Thị Kiều T nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, bà Thạch Thị Kiều T có công việc và nguồn thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để nuôi cả hai con. Đồng thời, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho hai cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cả hai cháu Lê Khương T1 và Lê Khương N cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng.
Đối với cháu Lê Khương T1 là người bị khuyết tật đặc biệt nặng (khuyết tật vận động, nghe nói, thần kinh, tâm thần) theo giấy xác nhận khuyết tật số 79/MXTTMX137 ngày 29/01/2016 của Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Lê Khương T1 cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền quyết định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Lê Khương T1.
Đồng thời, giao cháu Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017 cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Huyền Th không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Thạch Thị Kiều T không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thạch Thị Kiều T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Thạch Thị Kiều T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Kiều T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Kiều T được ly hôn với ông Lê Huyền Th.
- Về con chung:
Giao cháu Lê Khương T1, sinh ngày 13/12/2011 cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền quyết định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Lê Khương T1.
Giao cháu Lê Khương N, sinh ngày 24/7/2017 cho bà Thạch Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lê Khương N đủ 18 (Mười tám) tuổi.
Sau khi ly hôn, ông Lê Huyền Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thạch Thị Kiều T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thạch Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005765 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Thạch Thị Kiều T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Lam |