- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hằng-Tâm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu A về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày 16-8-2023 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mùa
Ông Phan Tấn Lãm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐST- HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thu A, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 4 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hoàng Thị Thu A trình bày:
Bà Hoàng Thị Thu A và ông Hoàng Văn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003 và đến năm 2006 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01 ngày 19 tháng 10 năm 2006. Trong thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi vã thường xuyên, ông B thường xuyên đi uống rượu, say xỉn rồi về nhà chửi bới, đánh đập vợ con, đập phá đồ trong nhà. Bà A thấy rằng không cảm nhận được sự yêu thương, lo lắng từ ông B, gia đình và bà A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông B không nghe, không chịu sửa chữa nên ông bà đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay không ai quan B ai. Nay, bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn gia đình đã chở lên trầm trọng nên bà A yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa bà A và ông B có 02 người con chung là Hoàng Thị Quỳnh C, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2004 và Hoàng Gia D, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2013. Sau khi ly hôn bà A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Gia D cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Đối với con chung là Hoàng Thị Quỳnh C đã trên 18 tuổi nên bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà A yêu cầu ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hoàng Gia D mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu D trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 6 năm 2023 cũng như đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa, bà A đều không yêu cầu ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Bảo.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà A trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 6 năm 2023 cháu Hoàng Gia D trình bày:
Cháu là con ruột của bà A và ông B, hiện nay cháu đã 10 tuổi và đang học lớp 4, trường Tiểu học PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, cháu có biết việc bố mẹ cháu lên Tòa án để giải quyết việc ly hôn với nhau. Nay, cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà A, việc cháu muốn sống chung với mẹ là do cháu tự nguyện, không ai ép buộc vì mẹ cháu chăm sóc cho cháu nhiều hơn bố cháu.
Bị đơn ông Hoàng Văn B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa :
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đượng sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông B vẫn vắng mặt không có lý do. Và qua xem xét tại hồ sơ và các tài liệu bà A cung cấp là phù hợp với quy định pháp luật.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; 36; 39; 227; 228; 217 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51;
Căn cứ vào Điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn là bà A.
Về con chung: Giao con chung là Hoàng Gia D, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2013 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Đối với người con chung Hoàng Thị Quỳnh C, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2004 đã trưởng thành nên bà A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà A về phần cấp dưỡng nuôi con do bà A tự nguyện rút yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp“Ly hôn” do bà Hoàng Thị Thu A đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Hoàng Văn B cư trú tại: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Hoàng Văn B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B theo thủ tục chung.
Phân tích nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà A cho thấy, bà và ông B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003 và đến năm 2006 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01 ngày 19 tháng 10 năm 2006. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian đầu vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2011 vợ chồng đã không còn hạnh phúc phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B thường xuyên uống rượu về nhà đập phá đồ đạc, đánh đập vợ con, do vậy vợ chồng thường xuyên cãi vã không hợp nhau, ông B không quan B đến gia đình, không chăm lo làm ăn, từ khi về chung sống với nhau bà A không cảm nhận được sự yêu thương của chồng đối với mình và con chung của vợ chồng, bà A và ông B đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay không ai còn quan B đến ai.
Tại phiên tòa, bà A cho rằng giữa bà và ông B đã cố gắng hòa giải bà và gia đình đã khuyên bảo ông B nhiều lần nhưng không được, ông B vẫn tiếp tục uống rượu, do vậy mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Và nay bà A xác định không còn tình cảm với ông B, mặc dù tại phiên tòa không có mặt ông B nhưng bà A vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu được ly hôn với ông B. Hội đồng xét xử nhận thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không còn ai quan B đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà A và ông B có 02 người con chung là Hoàng Thị Quỳnh C, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2004 và Hoàng Gia D, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2013. Quá trình thu thập chứng cứ cũng như lời khai của bà A có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Gia D cho đến khi đủ 18 tuổi. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 6 năm 2023, cháu D có nguyện vọng được chung sống cùng với bà A. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu và cũng như nguyện vọng của cháu, nghĩ cần thiết phải giao con chung là cháu D cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật. Đối với người con chung là Hoàng Thị Quỳnh C, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2004 đã trưởng thành, bà A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 4 năm 2023, bà A có yêu cầu ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hoàng Gia D mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu D trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 6 năm 2023 cũng như đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa, bà A đều không yêu cầu ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà A phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận và cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà A.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; các Điều 35; 36; 39; 227; 228; 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu A về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thu A được ly hôn với ông Hoàng Văn B.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Hoàng Gia D, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2013 cho bà Hoàng Thị Thu A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Đối với con chung là cháu Hoàng Thị Quỳnh C, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2004 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu A về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do không có yêu cầu.
2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Thu A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006519 ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận - TAND, VKSND tỉnh BP; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập; - UBND xã Phú Nghĩa; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Văn Phú Vinh |