- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh T"
- Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/8/2023. “V/v Tranh chấp về Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Thanh Bình;
2. Bà Đào Thị Thường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2023/TLST-HNGĐ, ngày 19/4/2023 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/QĐ-TA ngày 27/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Xóm 7, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Đinh Công T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Bản L2, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
(Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Đinh Công T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 21/8/2017 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do vợ chồng cùng đi làm ăn xa không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau; tính cách, quan điểm sống hai bên không hợp nhau, anh T có biểu hiện chơi bời, bị bạn bè rủ rê chị nghi ngờ anh T có sử dụng trái phép chất ma túy. Mặt khác, khi vợ chồng mâu thuẫn anh T còn đánh đập chị. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2021, chị bỏ về quê ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An sinh sống, hai người không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị H và anh T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình chị H đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; bản sao CCCD của Phạm Thị H và 02 giấy xác nhận thông tin cư trú.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho anh T đồng thời triệu tập anh T đến Tòa án làm việc. Bản thân anh T biết rõ việc chị H xin ly hôn nhưng anh T đều cố tình vắng mặt, không đến để giải quyết vụ án.
Tại các biên bản xác minh thể hiện chị Phạm Thị H và anh Đinh Công T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn năm 2017 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An như chị H trình bày, quá trình chung sống tại nơi cư trú những năm đầu gia đình anh chị sống hạnh phúc. Nhưng đến đầu năm 2021 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh T đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình, bản thân anh T bị chính quyền địa phương nghi ngờ có sử dụng chất ma túy, hiện nay anh chị đang sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử Nghị án là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai đã vi phạm Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị xét xử vắng mặt anh Đinh Công T.
- Về nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị H: Xử cho cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đinh Công T.
+ Về con chung: Các đương sự không có con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
+ Về tài sản chung: nguyên đơn không đề nghị giải quyết, anh T không có ý kiến về tài sản chung, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn, anh Đinh Công T có hộ khẩu thường trú tại xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Căn cứ quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.
. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXX ST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/QĐ-TA ngày 27/7/2023, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh T vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn, vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn; chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị H và anh Đinh Công T kết hôn trên cơ sở tự nguyện đăng ký hôn ngày 21/8/2017 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Trong quá trình chung sống do anh T thường xuyên đi làm ăn xa, không có điều kiện quan tâm đến gia đình; bản thân anh T bị chính quyền địa phương nghi ngờ có sử dụng chất ma túy. Hiện nay vợ chồng sống ly thân từ năm 2021, chị H bỏ về quê ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An sinh sống, hai người không còn quan tâm đến nhau nữa, thể hiện hôn nhân của họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: chị H và anh T không có con chung.
. Về tài sản chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Những nhận định và đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đinh Công T.
2. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai số AA/2022/0000774 ngày 19/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ, chị Hòa đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Anh Đinh Công T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ -TAND tỉnh Yên Bái;
(đã ký) -VKSND thị xã Nghĩa Lộ; -CCTHADS thị xã Nghĩa Lộ; -Các đương sự (2b)
- UBND xã Diễn Lâm, H. Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An. -Lưu: Hồ sơ.
Đặng Quốc Hưng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Chấn; - CCTHADS huyện Văn Chấn; - UBND xã Phúc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Phú THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |