- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chị T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:15/2023/HNGĐ - ST Ngày 29/ 3/ 2023 V/v “ Ly hôn do một bên mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Văn Hòa và ông Nguyễn Bá Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng - Kiểm sát viên Trong ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về yêu cầu “ Ly hôn do một bên mất tích” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn X - sinh năm 1984
Địa chỉ: xóm S - xã Nghĩa S- huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An (có mặt)
2. Bị đơn: chị Trương Thị Cẩm T - sinh năm 1989
Địa chỉ: xóm S - xã Nghĩa S - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An (đã bị Toà án tuyên bố mất tích)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn X trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Trương Thị Cẩm T kết hôn với nhau vào năm 2007 tại ủy ban nhân dân xã L- huyện C- tỉnh T. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau tại xóm S - xã Nghĩa S- huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, không hiểu và thông cảm cho nhau dẫn đến mất tình cảm nên chị T đã tự ý bỏ nhà đi từ ngày 30 tháng 4 năm 2019 đến nay không có tin tức và địa chỉ, không ai biết chị T đang ở đâu nên anh X làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố chị Trương Thị Cẩm T mất tích để được ly hôn. Về con chung: anh Nguyễn Văn X và chị Trương Thị Cẩm T có hai con chung là Nguyễn Trương X sinh ngày 14 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn H sinh ngày 23 tháng 11 năm 2012. Từ ngày chị T bỏ nhà đi hai con chung ở với anh X và được anh X nuôi ăn học, hiện tại có cuộc sống ổn định. Nay ly hôn anh X có nguyện vọng được tiếp tục nuôi hai con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn là chị Trương Thị Cẩm T: Chị Trương Thị Cẩm T có hộ khẩu thường trú tại xóm S- xã Nghĩa S- huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 4 năm 2019 đến nay không có tin tức và địa chỉ, không ai liên lạc được với chị T. Anh X đã làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố chị Trương Thị Cẩm T mất tích. Toà án đã ra quyết định tuyên bố chị Trương Thị Cẩm T mất tích tại quyết định số 08/2022/QĐ-DSST ngày 19 tháng 9 năm 2022. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn X là cho ly hôn với chị Trương Thị Cẩm T; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao hai con chung là Nguyễn Trương X sinh ngày 14 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn H sinh ngày 23 tháng 11 năm 2012 cho anh X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con chung trưởng thành; Về án phí nguyên đơn anh Nguyễn Văn X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn X có nơi cư trú tại xóm S - xã Nghĩa S - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với chị Trương Thị Cẩm T đã bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn tuyên bố mất tích theo quyết định số 08/2022/ QĐ- DSST ngày 19 tháng 9 năm 2022 do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: chị Trương Thị Cẩm T đã bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn tuyên bố mất tích tại quyết định số 08/2022/QĐ- DSST ngày 19 tháng 9 năm 2022 [2] Về nội dung 2.1 Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn X và chị Trương Thị Cẩm T kết hôn với nhau trên sơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại ủy ban nhân dân xã L-huyện C - tỉnh T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau tại xóm S- xã Nghĩa S- huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm nên chị Trương Thị Cẩm T đã bỏ nhà đi từ ngày 30 tháng 4 năm 2019 đến nay mà không có tin tức gì. Với thời gian chị T vắng mặt tại nơi cư trú đã hơn ba năm mà không rõ tin tức nên Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã tuyên bố chị Trương Thị Cẩm T mất tích tại bản án số 08/2022/QĐ- DSST ngày 19 tháng 9 năm 2022. 2.2. Về con chung: anh Nguyễn Văn X và chị Trương Thị Cẩm T có hai con chung là Nguyễn Trương X sinh ngày 14 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn H sinh ngày 23 tháng 11 năm 2012. Từ ngày chị T bỏ đi hai con chung ở với anh X, hiện tại có cuộc sống ổn định. Anh X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung và nguyện vọng của các con đều mong muốn ở với bố. Xét thấy nguyện vọng của anh X và của các con chung là phù hợp và để đảm bảo quyền lợi cho các con nên giao hai con chung cho anh X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. 2.3. Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Văn X không yêu cầu giải quyết. [3]. Về án phí: anh Nguyễn Văn X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn X 1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn X ly hôn với chị Trương Thị Cẩm T 2. Việc nuôi con: Giao hai con chung là Nguyễn Trương X sinh ngày 14 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn H sinh ngày 23 tháng 11 năm 2012 cho anh X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đã trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T do anh X không có yêu cầu.
Chị T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Văn X không yêu cầu giải quyết 4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án anh Nguyễn Văn X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006025 ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn. 5. Anh Nguyễn Văn X có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND h. Nghĩa Đàn - Chi cục THADS h. Nghĩa Đàn - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã Nghĩa S - h. Nghĩa Đàn. - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |