vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Đặng Thủy T phải chịu 300.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. TAND tỉnh Bình Phước; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Đặng Thủy T phải chịu 300.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/8/2023
V/v: Tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Đức

Bà Vũ Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2023/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023, về việc: Xác định cha cho con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thủy T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Ấp TT, xã TAH, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Phạm Thanh T1, sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ 6, khu phố PT, phường HC, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn:

Năm 2015 chị Đặng Thủy T kết hôn với anh Nguyễn Văn T2 nhưng do cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh T2 không có hạnh phúc nên đến năm 2016 thì chị T không còn chung sống với anh T2 nữa. Cũng trong năm 2016 chị T chung sống như vợ chồng với anh Phạm Thanh T1. Tới tháng 7/2020 chị T mới làm thủ tục ly hôn với anh Nguyễn Văn T2. Ngày 22/6/2022 chị T làm thủ tục đăng ký kết hôn với anh Phạm Thanh T1 tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình chung sống với anh T1 thì chị T với anh T1 có chung với nhau hai người con là Phạm Nhật Hải Đăng, sinh ngày 06/8/2018 và Phạm Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 01/10/2020. Tên của hai cháu là do chị T và anh T1 tự đặt chứ hai cháu chưa được đăng ký khai sinh nên chưa có tên chính thức. Nay chị T yêu cầu Tòa án xác định anh Phạm Thanh T1 là cha của hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi để chị T làm thủ tục khai sinh cho hai cháu.

Bị đơn anh Phạm Thanh T1 trình bày: Năm 2016 anh T1 quen biết và sống chung như vợ chồng với chị Đặng Thủy T, hai bên sống chung tới năm 2022 mới đăng ký kết hôn, do trước đó chị T còn có quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn T2. Quá trình sống chung với chị T thì giữa anh T1 và chị T có hai con chung như chị T đã trình bày. Anh T1 đã tiến hành giám định ADN giữa anh và hai cháu Hải Đăng và Thảo Nhi, kết quả xét nghiệm xác định anh T1 và các cháu Hải Đăng, Thảo Nhi có quan hệ huyết thống Cha – Con. Anh T1 thống nhất với yêu cầu của chị T: Yêu cầu Tòa án xác định anh T1 là cha của hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi.

Đại diện Viện kiển sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước thụ lý giải quyết vụ án xác định cha cho con theo đơn yêu cầu của chị Đặng Thủy T là đúng thẩm quyền. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ. Đương sự cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung: Năm 2015 chị Đặng Thủy T đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn T2 nhưng tới năm 2016 thì chị T sống chung như vợ chồng với anh Phạm Thanh T1 và có chung với anh T1 hai người con là các cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi. Kết quả giám định ADN kết luận anh T1 là cha của hai cháu nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xác định anh T1 là cha của hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thủy T yêu cầu xác định anh Phạm Thanh T1 là cha của hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi. Anh T1 có nơi cư trú tại tổ 6, khu phố Phú Tân, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là Tranh chấp xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Về nội dung tranh chấp: Theo lời trình bày của hai đương sự thì chị Đăng Thủy T chung sống như vợ chồng với anh Phạm Thanh T1 từ năm 2016 và có chung với nhau hai người con là Phạm Nhật Hải Đăng, sinh ngày 06/8/2018 và Phạm Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 01/10/2020. Do thời gian sinh con thì chị T vẫn còn tồn tại quan hệ hôn nhân với người chồng trước là anh Nguyễn Văn T2 nên không thể đăng ký khai sinh cho hai cháu Đăng và Nhi theo cha của hai cháu là anh Phạm Thanh T1.

Mặc dù thời gian từ năm 2016 đến năm 2020 chị T còn tồn tại quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn T2, chưa ly hôn với anh T2. Tuy nhiên trong thời gian này giữa chị T và anh T2 không còn chung sống với nhau, không còn quan hệ vợ chồng, mà chị T đã sống chung như vợ chồng với anh Phạm Thanh T1 và sinh ra hai cháu Đăng và Nhi. Bản kết luận giám định ADN của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Chi nhánh phía nam cũng kết luận hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi có quan hệ Cha – Con với anh Phạm Thanh T1 với xác xuất 99,9999%. Vì vậy có đủ căn cứ xác định hai cháu Đăng, Nhi là con chung giữa anh Phạm Thanh T1 và chị Đặng Thủy T.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã có Quyết định Ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân thảnh phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long để thu thập chứng cứ, lấy lời khai của anh Nguyễn Văn T2 nhưng anh T2 không có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long không thể tiến hành lấy lời khai của anh T2 được. Tuy nhiên việc này không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết, theo quy định tại khoản 5 Điều 105 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Chị Đặng Thủy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 88, 89, 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 30, 39 Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thủy T, xác định anh Phạm Thanh T1 là cha của hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng, sinh ngày 06/8/2018 và Phạm Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 01/10/2020. (tên của hai cháu Phạm Nhật Hải Đăng và Phạm Ngọc Thảo Nhi là tên do chị Đặng Thủy T dự kiến đặt chứ hai cháu chưa được đăng ký khai sinh nên chưa có tên chính thức).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Đặng Thủy T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu số 0002920 ngày 10/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ