- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị H- Phạm Tiến Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị H. Xác định anh Phạm Tiến Đ sinh ngày 09/5/1998, nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu bé có tên dự định Phạm Gia P, sinh ngày 22/10/2020 theo giấy chứng sinh số 6435 ngày 22/10/2020 c…
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ- ST Ngày 28/12/2023 “V/v Tranh chấp xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Túc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Phạm Văn Bé
2. bà Hoàng Thị Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: ông Dương Văn Huyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2023, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: chị Lò Thị H, sinh năm 1993;
Nơi thường trú: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: anh Phạm Tiến Đ, sinh năm: 1998;
Nơi thường trú: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày: chị H và anh Phan Đình T (trú tại tổ P, phường H, thành B, tỉnh Hoà Bình) là vợ chồng hợp pháp, do mâu thuẫn vợ chồng đến năm 2015 chị và anh T ly thân mỗi người một nơi, chị H sinh sống tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh, còn anh T sinh sống tại thành phố B, tỉnh Hoà Bình. Trong thời gian ly thân anh T, chị H phát sinh tình cảm với anh Phạm Tiến Đ, đến năm 2020 chị H có thai với anh Đ và sinh con, đặt tên cho con là Phạm Gia P, sinh ngày 22/10/2020. Tháng 9/2022 chị H và anh T yêu cầu Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Hoà Bình giải quyết ly hôn. Quá trình ly hôn, anh T và chị H đều xác định con Phạm Gia P không phải là con chung của chị H và anh T nên không đề cập giải quyết. Do anh T bị bệnh đến ngày 29/6/2023 anh T đã chết, nay chị H muốn đăng ký khai sinh cho con Phạm Gia P để con có đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật, chị đề nghị Tòa án xác định anh Phạm Tiến Đ là cha của con Phạm Gia P (tên dự định khai sinh).
Tại bản tự khai, anh Phạm Tiến Đ trình bày: chị H có chồng là anh Phan Đình T, do chị H và anh T sống ly thân mỗi người một nơi nên anh và chị H có quan hệ tình cảm với nhau. Năm 2020 chị H có thai và sinh con, dự định đặt tên là Phạm Gia P. Anh Đ và chị H đi khai sinh cho con nhưng không được vì chị H có thai con P trong thời kỳ còn hôn nhân với anh T. Tháng 9/2022 chị H và anh T ly hôn tại Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Hoà Bình, để khai sinh cho con Phạm Gia P có đầy đủ các quyền lợi theo quy định, nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xác định anh Đ là cha của con P, anh Đ đồng ý và đề nghị Tòa án xác định anh là cha của con Phạm Gia P.
Tại Kết quả giám định gen (ADN) số 1317.VCJ/22/ADN ngày 17/10/2022 của Công ty cổ phần công nghệ y tế VIETCARE kết luận: anh Phạm Tiến Đ có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Phạm Gia P, độ tin cậy >99,9999%.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: xác minh thu thập chứng cứ; việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và các thủ tục tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xác nhận cha cho con của chị Lò Thị H, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Phạm Tiến Đ có nơi cư trú tại thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, nên yêu cầu “xác định cha cho con” của chị Lò Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chị H và anh Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Lò Thị H và anh Phạm Tiến Đ.
Về nội dung: Xét lời khai của chị Lò Thị H thể hiện chị và anh Phan Đình T trước ngày 20/9/2022 là vợ chồng hợp pháp, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị H và anh T đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2015. Trong thời gian sống ly thân với anh T, chị H có thai với anh Phạm Tiến Đ và sinh con ngày 22/10/2020 (dự kiến đặt tên Phạm Gia P). Năm 2022 chị H và anh T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Hoà Bình đã Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T theo Quyết định số 50/2022/QĐCNTTLH ngày 20/9/2022. Ngày 07/10/2022 chị H và anh Đ đăng ký kết hôn, tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, trước khi kết hôn với anh Đ, chị H mang thai con P còn trong thời kỳ hôn nhân với anh T, nên chị H không đăng ký khai sinh được cho con. Nay chị H đề nghị xác định anh Đ là cha đẻ của con Phạm Gia P.
Xét lời khai của anh Đ thống nhất với lời khai của chị H và xác nhận Con Phạm Gia P sinh ngày 22/10/2020 là con của anh Đ.
Tuy trong thời gian còn hôn nhân hợp pháp với anh T, chị H có thai với anh Đ, nhưng do chị H và anh T sống ly thân mỗi người một nơi nên khi chị H và anh T ly hôn tại Toà án, đều xác định con P không phải là con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án giữa chị H và anh T thể hiện có 02 con chung là Phan Hà N, sinh ngày 03/02/2012 và Phan Sơn H, sinh ngày 07/01/2014. Chị H, anh T không có ý kiến gì đối với Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Trước khi thụ lý giải quyết vụ án, anh Phan Đình T đã chết (trích lục khai tử số 130/TLKT-BS ngày 04/7/2023), căn cứ lời khai của chị H và anh Đ đều khai phù hợp với nhau và phù hợp với Kết quả giám định gen (ADN) số 1317.VCJ/22/ADN ngày 17/10/2022 của Công ty cổ phần Công nghệ y tế VIETCARE kết luận: anh Phạm Tiến Đ có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Phạm Gia P, độ tin cậy >99,9999%.
Như vậy, từ những chứng cứ trên; căn cứ vào Điều 88, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị H, xác định anh Phạm Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé (do chị Lò Thị H sinh ra), có tên dự định Phạm Gia P sinh ngày 22/10/2020, Giấy chứng sinh số 6435 do Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh cấp ngày 22/10/2020.
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật dân sự; Điều 88; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị H. Xác định anh Phạm Tiến Đ sinh ngày 09/5/1998, nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu bé có tên dự định Phạm Gia P, sinh ngày 22/10/2020 theo giấy chứng sinh số 6435 ngày 22/10/2020 của Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh.
Về án phí: anh Phạm Tiến Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh. - VKSND huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; VP | TM. HỘI ĐỒNG XET XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Thị Túc |