vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi nuôi con"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!NINH!GIANG!
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2023
“Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!NINH!GIANG!-!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!(HĐXX)!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.!

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Anh Bật và ông Vũ Duy Tuần.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Loan.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Ninh Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 04/2023/TLST - HNGĐ ngày 10/02/2023 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 29/5/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:!Anh!Nguyễn!Việt!H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Chợ B, xã T,

huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Thị Nhung – Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Minh Khuê - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (Có mặt)

Bị đơn: Chị!Nguyễn! Thị! H1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (Có mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo đơn khởi kiện; các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, anh Nguyễn Việt H trình bày: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 41/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 18/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã giải quyết cho anh H ly hôn chị H1, về con chung hai bên thỏa thuận chị H1 nuôi dưỡng hai con Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Hòa Bình, sinh ngày 19/7/2016, anh H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 4/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh H vẫn trực tiếp nuôi con, đến đầu năm 2023 chị H1 đón con về nuôi dưỡng và học tập tại xã Hồng Phúc, huyện Ninh Giang và cản trở anh thực hiện quyền thăm nom con, ngăn cản anh đưa con Nguyễn Khánh Linh đi khám chữa bệnh, ngoài ra về thu nhập, chỗ ở để nuôi con chị H1 gặp nhiều khó khăn, điều kiện không thuận lợi bằng anh, do vậy anh khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cho anh được nuôi dưỡng cả hai con, tuy nhiên trong quá trình xét xử anh H thay đổi yêu cầu khởi kiện, anh xin được nuôi một con Nguyễn Khánh Linh và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm chủ hiệu thuốc có thu nhập 80.000.000 đồng/tháng, có 02 nhà ở, các điều kiện khác đảm bảo nuôi con tốt nhất.

Lời khai của chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Chị xác nhận lời trình bày của anh H về thời gian vợ chồng kết hôn, ly hôn, kết quả Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giải quyết ly hôn và có thỏa thuận về nuôi con là đúng. Chị thấy anh H công việc không ổn định, không có thời gian chăm sóc con, bố mẹ anh H cũng đã ly hôn nên việc nuôi con không phù hợp, hiện nay hai con đang được chị nuôi dưỡng, đồng thời được ông bà ngoại giúp đỡ, bản thân chị làm công nhân thu nhập, thực tế chị đang nuôi con có cuộc sống và học tập bình thường, ổn định, do vậy chị xin được tiếp tục nuôi con, không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi nuôi con của anh H.

Lời khai của con Nguyễn Khánh Linh có mong muốn, nguyện vọng được ở với bố, anh Nguyễn Việt H.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào các chứng cứ đương sự cung cấp chứng minh anh H có điều kiện thuận lợi hơn chị H1 trong việc nuôi con, do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, giao con Nguyễn Khánh Linh cho anh H được nuôi dưỡng.

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, về chứng cứ trong hồ sơ đã được thu thập đầy đủ, đảm bảo việc giải quyết vụ án được khách quan. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị HĐXX: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Việt H - Giao cho anh Nguyễn Việt H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 05/12/2011 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện

2

của anh Nguyễn Việt H không yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị H1 có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Anh anh Nguyễn Việt H và chị Nguyễn Thị H1 là vợ chồng, do cuộc sống chung không hạnh phúc nên hai bên đã ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 41/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình hai bên thỏa thuận chị H1 được nuôi hai con Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Hòa B, sinh ngày 19/7/2016, theo các chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án xác định trong thời gian trực tiếp nuôi con, chị H1 đã ngăn cản anh H thăm nuôi con và đưa con đi chữa bệnh, về phía anh Nguyễn Việt H có nghề nghiệp, thu nhập, chỗ ở thuận lợi hơn so với chị H1, để đảm bảo sự công bằng và quyền lợi về mọi mặt của bố, mẹ và nguyện vọng của con, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, giao con Nguyễn Khánh L hiện đang do chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng sang cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về án phí: Anh Nguyễn Việt H tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Việt H về việc đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.!

Giao cho anh Nguyễn Việt H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/12/2011 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Việt H không yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị H1 có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Việt H tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp

3

theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0000307, ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Anh Nguyễn Việt H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Việt H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ