vanban.org

Bản án 15/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 20/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 57 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn T 06 (Sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn T phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 20 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lâm Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Chinh.

Ông Đỗ Hồng Kỳ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Kiều Ti Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

LÊ TUẤN T, sinh năm: 1981, tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn M2, xã Nh, huyện N H, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Tuấn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; Vợ là: Nguyễn Thị Liễu Ch, có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Tại Bản án số 05/HSST ngày 25/01/1999 của Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Tại Quyết định số 577/QĐ-UB ngày 29/01/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận, bị đưa vào Cơ sở giáo dục Huy Khiêm – Bình Thuận 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

- Tại Bản án số 19/2011/HSST ngày 07/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về hai tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam, giữ” .

Tạm giữ, Tạm giam: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thiện M, sinh năm: 1982 Nơi cư trú: Thôn M2, xã Nh, huyện N H, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.

Đại diện theo ủy quyền của Bị hại: Ông Lê Thành K, sinh năm: 1966

Nơi cư trú: Khu phố 4, phường Phủ Hà, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (Giấy ủy quyền lập ngày 16/11/2021). Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Liễu Ch, sinh năm 1987; Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Huỳnh Thiên V, sinh năm: 1986; Có mặt tại phiên tòa.

3. Anh Trịnh Văn Nh (tên gọi khác: Veo), sinh năm: 1987; Vắng mặt tại phiên tòa.

4. Anh Võ Đằng T (tên gọi khác: Thành), sinh năm: 1978; Có mặt tại phiên tòa.

5. Chị Đỗ Thị B, sinh năm: 1982; Có mặt tại phiên tòa.

6. Anh Võ Đằng H, sinh năm: 1974; Có mặt tại phiên tòa.

Cùng cư trú: Thôn M2, xã Nh, huyện N H, tỉnh Ninh Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Tuấn T và anh Nguyễn Thiện M là hàng xóm, ở sát nhà nhau. Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 23/10/2021, Nguyễn Thiện M đi nhậu về thì bị chó của nhà Lê Tuấn T sủa. Bực tức, Minh chửi bới. Lúc này, Tú đang nhậu tại nhà mình cùng với Huỳnh Thiên V và Trịnh Văn Nh nên đi ra đu i chó. Nhìn thấy Tú thì Minh tiếp tục chửi Tú, d n đến hai bên xảy ra thách thức đánh nhau. Tú đi vào nhà lấy một con dao Thái Lan, có kích thước dài khoảng 25cm, có cán bằng nhựa màu vàng, lư i làm bằng kim loại rồi đi ra khu vực ngoài đường phía trước nhà, cùng lúc đó Minh c ng chạy ra, hai bên xông vào đánh nhau. Tú dùng tay trái c m dao đâm một nhát trúng vào vùng bụng bên phải của Minh gây ra vết thương thấu bụng, lòi ruột non, Minh gục ngã xuống đất và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận.

Lê Tuấn T được vợ là Nguyễn Thị Liễu Ch chở đi trốn để tránh bị đánh trả thù. Trên đường đi, Tú vứt bỏ con dao ở dọc đường. Sau đó, Tú đã đến Công an xã Nhơn Hải trình diện và khai báo toàn bộ hành vi của mình.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là đoạn đường bê tông liên thôn thuộc địa phận thôn M 2, xã Nh, huyện N H. Nơi xảy ra đánh nhau là đoạn đường nằm phía trước nhà của Nguyễn Thiện M và Lê Tuấn T, tiến hành khám nghiệm ghi nhận cụ thể như sau:

Trên ph n đường bên trái hướng đi Mỹ Tường 1, Nhơn Hải cách mép đường bên trái 1,8m về phía Nam, cách trụ điện 12m về phía Tây có một vết màu nâu dạng nhỏ giọt kích thước (0,01x0,01)m là vị trí số (01); cách vị trí số (01) về hướng Tây hướng vào tâm đường 3,9m cách mép đường trái hướng đi Mỹ Tường 1, Nhơn Hải 2,9m phát hiện một vết màu nâu dạng nhỏ giọt kích thước (0,01x0,01)m, là vị trí số (02); cách vị trí số (02) về phía Bắc sát mép đường bên phải hướng phải, hướng đi Mỹ Tường 1, Nhơn Hải, 2,4m cách mép đường bên trái hướng đi Mỹ Tường 1, Nhơn Hải 05m phát hiện dưới bụi ven đường có một chiếc mắt kính gọng bằng kim loại, hai chân kính bọc nhựa màu đen kích thước (0,14x0,035)m, là vị trí số (03). Ngoài ra, trong quá trình khám nghiệm không phát hiện ghi nhận gì thêm.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 21/3674-GCT/NgT ngày 18/11/2021 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận ghi nhận tình trạng thương tích của anh Nguyễn Thiện M như sau: “Vết thương thấu bụng, rách mạc treo ruột non - Vết thương vùng hố chậu phải dài 03cm, lòi ruột non đoạn 05cm”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 176/TgT ngày 07/12/2021 của Trung tâm giám định Y khoa-Pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Vết thương vùng hố chậu phải sẹo liền tốt kích thước (6x0,2)cm 02%.

+ Vết m vùng bụng sẹo liền tốt kích thước (24x0,3)cm 02%, vào bụng xử lý đưa ruột non vào trong 11%, khâu mạc treo ruột non 03%.

Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên là 17%.

Cơ chế hình thành vết thương: do vật sắc nhọn gây nên.

Về tang vật: là 01 con dao Thái Lan dài khoảng 25cm có cán bằng nhựa màu vàng, lư i bằng kim loại. Sau khi đâm anh Nguyễn Thiện M, Tú đã vứt bỏ con dao ở dọc đường, Cơ quan điều tra đã t chức truy tìm nhưng không có kết quả.

Về dân sự: anh Nguyễn Thiện M yêu c u bị cáo Lê Tuấn T phải bồi thường: chi phí điều trị thương tích, tiền t n thất về tinh th n, ngày công lao động trong thời gian điều trị thương tích với t ng số tiền 107.100.000 đồng. Lê Tuấn T đã bồi thường 4.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường theo quy định của pháp luật.

* Tại Cáo trạng số 10/QĐ-VKS-P2 ngày 30/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố Lê Tuấn T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội giống nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã truy tố; Bị hại thay đ i yêu c u bồi thường thiệt hại, yêu c u bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích là: 181.160.000đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm luận tội và tranh luận:

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố đối với Lê Tuấn T về tội Giết người là có căn cứ. Bị cáo biết việc dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của bị hại gây ra thương tích cho bị hại nhưng v n thực hiện. Nguyên nhân là do bực tức, xuất phát từ một ph n lỗi của bị hại.

Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội bồi thường thiệt hại”; “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đ u thú’’ các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố: bị cáo Lê Tuấn T phạm tội “Giết người”. Áp dụng: khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS), xử phạt bị cáo Lê Tuấn T từ 06 - 07 năm tù.

Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Lê Tuấn T bồi thường cho anh Nguyễn Thiện M theo quy định của pháp luật.

* Đại diện theo ủy quyền của bị hại tranh luận:

Hành vi của bị cáo Lê Tuấn T là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả chết người chưa xảy ra. Quan điểm của Viện kiểm sát về lỗi của bị hại là không có căn cứ. Anh M chỉ chửi chó một cách vu vơ. Bị hại đã chấm dứt chửi, đi vào nhà. Lỗi của Anh M không có quan hệ nhân quả với hành vi của bị cáo. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, ăn năn hối cải. Đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh M là phụ hồ, có con nhỏ, mẹ già, sức khỏe giảm sút, yêu c u bồi thường 181.160.000đồng, trừ đi 4.000.000đồng đã nhận.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn, hối hận về việc làm của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Thuận, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng (chị Nguyễn Thị Liễu Ch, anh Trịnh Văn Nh) dù đã được triệu tập hợp lệ. Sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt là BLTTHS).

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Tuấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo được đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, nhận thấy là phù hợp, có đủ căn cứ để xác định: bực tức vì bị anh Nguyễn Thiện M chửi mắng và sẵn có men rượu nên Lê Tuấn T cải vả, thách thức đánh nhau với anh Nguyễn Thiện M. Sau đó, Lê Tuấn T đi vào nhà lấy một con dao Thái Lan, có kích thước dài khoảng 25cm, có cán bằng nhựa màu vàng, lư i làm bằng kim loại rồi đi ra khu vực ngoài đường phía trước nhà, đánh nhau với Anh M. Tú dùng tay trái c m dao đâm một nhát trúng vào vùng bụng bên phải của Anh M gây ra vết thương thấu bụng, rách mạc treo ruột non, vết thương hố chậu phải dài 03 cm lòi ruột non đoạn 5cm, tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên là 17%.

Hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm, đâm vào vùng bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể của anh Nguyễn Thiện M nhằm tước đoạt tính mạng của Anh M, bị cáo đã bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Việc Anh M không chết nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo Tú, do được cấp cứu kịp thời.

Theo Án lệ số 47/2021/AL về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại. Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trường hợp này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”;

Theo Án lệ số 45/2021/AL về xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trường hợp này bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”

Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Tuấn T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo phải đánh giá là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; bị cáo có nhân thân xấu, nhiều l n bị xử phạt tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi gây rối trật tự công cộng nên Hội đồng xét xử sơ thẩm c n xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một ph n thiệt hại về chi phí điều trị thương tích cho bị hại; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đ u thú; Bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo bị bệnh B20.1 (bệnh HIV d n đến nhiễm trùng khác) phải điều trị dài hạn, gia đình có khó khăn về kinh tế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mặc khác, hành vi của bị cáo đã hoàn thành về mặt hành vi nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra, là phạm tội chưa đạt đã hoàn thành nên c n áp dụng Điều 57 BLHS khi quyết định về hình phạt.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết lỗi của bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là không phù hợp. Bởi lẽ việc bị hại chửi bới bị cáo đây chính là nguyên nhân d n đến việc bị cáo dùng dao đâm bị hại nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 123 BLHS.

Về trách nhiệm dân sự: thương tích của bị hại Nguyễn Thiện M là hậu quả do hành vi trái pháp luật của bị cáo Lê Tuấn T gây ra nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Anh M.

Anh M nằm viện điều trị tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận từ ngày 23/10/2021 đến ngày 29/10/2021, tái khám ngày 05/11/2021.

Xét yêu c u đòi bồi thường thiệt hại của Anh M là chính đáng nhưng các khoản yêu c u chưa phù hợp, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ mà chỉ chấp nhận những khoản chi phí hợp lý sau:

- Chi phí nằm viện và viện phí: 2.000.000đồng

- Tiền xe ra vào viện: 700.000đồng

- Tiền tái khám và mua thuốc: 1.700.000đồng.

- Giám định thương tích: 200.000đồng.

- Tiền công người nuôi bệnh trong thời gian nằm viện: 06 ngày x 250.000đ/ngày = 1.500.000đồng

- Thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện (tiền công lao động ph thông): 06 ngày x 250.000đ/ngày = 1.500.000đồng.

- Tiền ăn bồi dư ng của người bệnh trong thời gian nằm viện: 06 ngày x 100.000đ/ngày = 600.000đồng.

- Thu nhập bị mất sau khi ra viện: 90 ngày x 250.000đ/ngày = 22.500.000đồng.

- T n thất tinh th n: 17 tháng lương cơ sở x 1.490.000đ/tháng = 25.330.000đồng.

T ng cộng là: 56.030.000đ (Năm mươi sáu triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

Bị cáo Lê Tuấn T đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thiện M 4.000.000đồng nên buộc bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại là 52.030.000đ (Năm mươi hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: 01 con dao bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, bị cáo đã ném mất. Quá trình điều tra không thu hồi được nên không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: bị cáo Lê Tuấn T có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với ph n nghĩa vụ phải tiếp tục bồi thường; bị hại không phải chịu án phí được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a, g khoản 1 Điều 23, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn T phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng: khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 57 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn T 06 (Sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lê Tuấn T có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thiện M là: 52.030.000đ (Năm mươi hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

- Về án phí: Bị cáo Lê Tuấn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.600.000đ (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại có mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20 tháng 7 năm 2022).

Cỡ chữ