vanban.org

Bản án 15/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 21/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN YÊN MỸ
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 15/2022/HSST
Ngày 21/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Mạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21/02/2022, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 11/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N. Sinh năm: 1999. Có mặt Sinh trú quán: thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Họ và tên bố: Nguyễn Đức T. Sinh năm: 1971. Nghề nghiệp: Lái xe. Họ và tên mẹ: Lương Thị X. Sinh năm 1973. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là thứ hai. Họ và tên vợ: Đỗ Thị H. Sinh năm 1999. Nghề nghiệp: Tự do. Con: Có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/12/2021 đến ngày 03/01/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1971. Vắng mặt Trú tại: thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

* Người làm chứng:

Ông Vương Duy L, Sinh năm 1969. Vắng mặt Trú tại: thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ để đốt chơi tết nguyên đán năm 2022, Nguyễn Văn N, sinh năm 1999 ở thôn Y, xã T, huyện Y đã liên hệ mua pháo nổ trên tài khoản Facebook của N với người thanh niên khoảng 30-35 tuổi có tên tài khoản Facebook là “Nguyễn Bảo” nhưng không biết người này tên tuổi địa chỉ cụ thể ở đâu. N hỏi mua 50 quả pháo trứng với giá 15.000đồng/ 01 quả và mua 05 giàn pháo bình đà với giá 900.000đ/01giàn, rồi cả hai hẹn nhau đến khu vực bãi đất trống thuộc thôn N, xã T, huyện Y để giao nhận pháo nổ. Khoảng 21 giờ ngày 31 tháng 12 năm 2021, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen biển số 89F1- 37019 đi đến điểm hẹn gặp người thanh niên có tên Facebook tên “Nguyễn Bảo” để mua pháo. Tại đây, người thanh niên bán pháo nói với N chỉ có 37 quả pháo trứng và 05 giàn pháo bình đà, N đưa trước số tiền 2.700.000đồng hẹn sau khi chuẩn bị đủ số pháo nổ đã đặt thì đưa nốt số tiền còn lại. Người thanh niên này đồng ý và chỉ cho N ra vị trí đất trống cách đó khoảng 5m lấy pháo nổ được đựng trong chiếc bao tải màu xanh. N dựng xe rồi ra kiểm tra xác định bên trong bao tải là pháo nên đã xách lên xe môtô và điều khiển xe đi về đến đoạn đường 376, thôn N, xã T, huyện Y thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 37 vật hình quả lựu đạn, bên ngoài bọc giấy màu nâu và nilon màu vàng có ghi chữ nước ngoài, mỗi quả có đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm, cao 6,5cm có ngòi dẫn màu xanh dài 30cm; 04 vật hình trụ tròn bọc bên ngoài bằng giấy màu đỏ, có ghi chữ nước ngoài,đường kính 30cm, cao 06cm và 01 vật hình trụ tròn màu đỏ được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng đường kính 23,5cm, cao 8cm (được niêm phong ký hiệu M1); thu của N số tiền 1.800.000đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen biển số 89F1-37019.

Tại bản kết luận giám định số 22/PC09 ngày 03/01/2022 cuả Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật hình quả lựu đạn được ký hiệu là M1-1 trong niêm phong ghi ký hiệu M1 có tổng khối lượng là 01kg đều là pháo nổ, loại pháo hoa nổ. Mẫu vật hình trụ tròn được ký hiệu là M1-2 trong niêm phong ghi ký hiệu M1 có tổng khối lượng 5,3kg đều là loại pháo nổ.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone là của N dùng để liên lạc mua pháo, 1.800.000đồng là tiền của cá nhân N.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 89F1- 37019 là của ông Nguyễn Đức T sinh năm 1971, N tự lấy xe đi mua pháo không nói cho ông T biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mỹ đã trả lại chiếc xe mô tô và các giấy tờ có liên quan, ông T đã nhận và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với người thanh niên bán pháo nổ cho N, quá trình xác minh chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên tiếp tục xác minh có căn cứ, xử lý sau.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 21/QĐ-VKS-YM ngày 21/01/2022 của Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà có quan điểm xác định sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo cũng như quyền lợi của họ nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn N từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã T nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,9 kg pháo nổ trong niêm phong ký hiệu M1-1 và 5 kg pháo trong niêm phong ký hiệu M1-2, tổng số bằng 5,9 kg pháo.

Tịch thu cho bán đấu giá sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng. Đối với 01 sim bên trong điện thoại cho tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo N số tiền 1.800.000 đồng.

- Bị cáo Ngọc đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đều có ý kiến đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng khác và xin được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện VKSND huyện Yên Mỹ đều có đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt của người người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt đều đã có đầy đủ lời khai và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo cũng như quyền lợi của họ. Vì vậy, việc tiếp tục xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 31/12/2021 tại đoạn đường thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Văn N, sinh năm 1999 trú tại thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép 6,3 kg pháo nổ mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Do đó, Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý kinh tế, pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ hàng cấm là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục một thời gian cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung, cũng như thể hiện tính nhân đạo, sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,9 kg pháo nổ trong niêm phong ký hiệu M1-1 và 5 kg pháo trong niêm phong ký hiệu M1-2, tổng số bằng 5,9 kg pháo là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng có 01 sim bên trong, xác định bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội, liên lạc trao đổi mua pháo nên cần tịch thu cho bán đấu giá sung ngân sách Nhà nước, sim bên trong không còn giá trị sử dụng cho tiêu hủy; Đối với số tiền 1.800.000 đồng thu giữ của bị cáo, xác định là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Xử phạt Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,9 kg pháo nổ trong niêm phong ký hiệu M1-1 và 5 kg pháo trong niêm phong ký hiệu M1-2, tổng số bằng 5,9 kg pháo.

Tịch thu cho bán đấu giá sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng. Đối với 01 sim bên trong điện thoại cho tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo N số tiền 1.800.000 đồng.

( Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục thi hành án huyện Yên Mỹ ngày 18/02/2022).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ