- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bá H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƢƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày: 30/3/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƢƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Châu Đình Ngữ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022, đối với:
Bị cáo Lê Bá H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/6/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá T và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; nhân thân: Ngày 20/10/2013, bị Công an phường V, thành phố H xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản”, số tiền 750.000 đồng tại Quyết định số: 03843/QĐXPHC; ngày 02/4/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 08/2014/HSST); ngày 13/11/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 39/2014/HSST; ngày 04/8/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 181/2015/HSST; tiền án: 01 tiền án: Bản án số 132/2018/HSPT ngày 28/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam”; tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/10/2021 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Đình H1 - Văn phòng luật sư H. Địa chỉ: Số C đường P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Bị hại: Anh Võ Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ S, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Bạch Thị Hồng B, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A đường T, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
2. Ông Lê Bá T, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
3. Anh Nguyễn Ngọc Nhật Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A đường L phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
4. Anh Văn Khánh H2, sinh năm 1992; địa chỉ: Số S đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
5. Anh Hà Xuân Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Số E kiệt Y đường X, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
6. Anh Lê Văn B, sinh năm 1994; địa chỉ: Số A đường V, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 25/7/2021, Lê Bá H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F8-XXXX (xe của ông Lê Bá T), lưu thông trên tuyến đường Tôn Thất Sơn, thuộc tổ 9, phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện ở bãi đất trống bên đường có để nhiều thanh sắt (loại sắt chữ “V” được gia công hàn lại với nhau). H thấy số sắt trên không có người trông giữ và để tại khu vực vắng người nên nảy sinh ý định lấy trộm.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H đi đến tiệm thu mua phế liệu của chị Bạch Thị Hồng B Số A đường T, phường T, thị xã H, H nói với chị B là H có một số sắt phế liệu có đặc điểm như trên cần bán, chị B đồng ý mua với giá 9.200đồng/1kg và nói H đi thuê xe cẩu sắt đi cân rồi sau đó chở đến cho chị B để thanh toán tiền.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H dùng điện thoại liên hệ với anh Nguyễn Ngọc Nhật Q để hỏi thuê xe cẩu. Anh Q đồng ý cẩu số sắt trên với tiền công là 6.000.000 đồng. Anh Q điều động các nhân viên là anh Văn Khánh H2, anh Hà Xuân Đ và anh Lê Văn B đi cẩu số sắt nói trên cho H.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh H2 điều khiển xe ôtô cẩu biển kiểm soát 75C-YYYY cùng anh B và anh Đ (phụ xe) đến địa điểm để sắt nói trên thì gặp H, H yêu cầu anh H2 cẩu sắt lên xe để đưa đi cân. Trong lúc đang cẩu sắt thì H điện thoại hẹn với chị B đến trạm cân ở cây xăng dầu 3 sao, phường T, thị xã H để cân sắt. H đã yêu cầu anh H2 cẩu và chở số sắt lấy trộm 02 chuyến, đưa đến trạm cân trên để cân trọng lượng rồi yêu cầu anh H2 chở về để ở bãi đất trống trước quán phế liệu của chị B. Tổng trọng lượng sắt cả 02 cHến, cân được theo phiếu cân là 7.940kg. H đã thanh toán số tiền công trên cho anh Q.
Sau đó, H về tiệm phế liệu gặp chị B để thanh toán tiền thì chị B yêu cầu pH2 có giấy tờ cá nhân để làm hợp đồng mua bán. Do không mang theo giấy tờ nên H đi về. Đến khoảng 10 giờ ngày 26/7/2021, H mang theo giấy tờ đến làm hợp đồng mua bán với chị B, với nội dung H bán cho chị B 7.940kg sắt với giá 73.048.000đồng, chị B hỗ trợ thêm cho H tiền xe cẩu là 2.000.000đồng.
Về vật chứng thu giữ gồm: 01 phiếu cân kiêm chứng từ thanh toán lập ngày 25/7/2021, in lần 1 của xe ô tô biển kiểm soát 75C-037.56; 01 phiếu cân kiêm chứng từ thanh toán lập ngày 25/7/2021, in lần 2 của xe ô tô biển kiểm soát 75C-037.56; 01 giấy “Bản thỏa thuận” lập ngày 25/7/2021 có chữ ký của Lê Bá H về việc bán sắt phế liệu; 20 thanh sắt chữ V được gia công hàn lại với nhau, đã qua sử dụng, bị rỉ sét có tổng trọng lượng là 7.940 kg; 01 xe môtô nhãn hiệu SKYWAY màu nâu biểm kiểm soát 75F8-XXX, đã qua sử dụng.
Hiện 20 thanh sắt, 01 xe mô tô biển kiểm soát 75F8 XXXX, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.
Đối với điện thoại H đã sử dụng để liên lạc nói trên, sau khi gây án, H đã làm mất nên không thu giữ được.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 72 ngày 04/8/2021, của Hội đồng định giá Uỷ ban nhân dân thị xã Hương Thủy, kết luận: 20 thanh sắt chữ V, có tổng trọng lượng là 7.940 kg, trị giá 75.430.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi ngàn đồng)
Tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 823/KLGD ngày 08/10/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung, kết luận:
- Tại thời điểm gây án :
+ Về y học: Rối loạn hành vi trong trạng thái loạn thần di chứng do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.71).
+ Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức nhưng hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Thời điểm hiện tại:
+ Về y học: Rối loạn hành vi trong trạng thái loạn thần di chứng do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.71).
+ Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức nhưng hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho chị Bạch Thị Hồng B, số tiền 40.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-HTh ngày 19/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Bá H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ N quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Bá H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lê Bá H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03(ba) năm tù.
Ý kiến của bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét án dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đã có cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 25/7/2021, tại tổ X, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Bá H đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Võ Văn N, gồm: 20 thanh sắt chữ V, có tổng trị giá: 75.430.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi ngàn đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Lê Bá H là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tuy bị cáo H là người có bệnh bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi nhưng bị cáo có đủ khả năng nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính lười lao động, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản cá nhân được Nhà nước B hộ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Bá H phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo; người phạm tội là người có bệnh hạn chế khả năng điều khiển hành vi và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Lê Bá H có nhân thân xấu, nhiều lần trộm cắp tài sản. Vì vậy cần pH2 cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với chị Bạch Thị Hồng B, quá trình điều tra xác định chị B không biết tài sản đã mua là do người khác phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với anh Nguyễn Ngọc Nhật Q, Văn Khánh H2, Hà Xuân Đ, Lê Văn B đều không biết tài sản trên là do H phạm tội nên không xem xét xử lý.
Đối với ông Lê Bá T, không biết việc Lê Bá H sử dụng xe mô tô của mình để làm phương tiện phạm tội nên không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu. Tại phiên tòa không có ai yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Bá H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Bá H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 27/10/2021.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Bá H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND thị xã Hương Thủy; - Công an thị xã Hương Thủy; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phƣơng Thảo |