vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần An B phạm tội “Trộm cắp tài sản .

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần An B 01 (một ) năm tù. Thời hạn tù tính từ tạm giữ ngày 29/10/2021 và chuyển tạm giam từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran an Bình - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần An B phạm tội “Trộm cắp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày 17- 01-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Bà Đoàn Thị Bẩy

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên toà:

Ông Châu Long - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 708/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Trần An B, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú: Khóm , thị

Trấn Vũng L, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh L. Chỗ ở hiện nay: Như trên. Nghề nghiệp: Phụ bếp; Trình độ học vấn 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Minh H và bà Hồ Thị Bích D; Vợ, Con: Chưa có.

- Tiền án, Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án số 10/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án

nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt Trần An B 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản . Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2020 tại Trạm giam Xuyên Mộc.

- Bị cáo bị truy nã 24/8/2018, đình nã ngày 29/10/2021.

- Bị tạm giữ ngày 29/10/2021 và chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2021 đến

nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

* Bị hại: Chị Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số 63/18, đường Phan Bội C, khóm , phường , thành phố Cà Mau,

tỉnh Cà Mau.

Bị cáo bị giam có mặt, bị hại xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Trần An B là người thuê phòng trọ của bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1960, ngụ ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau. Đến khoảng 19 giờ ngày 02 tháng 7 năm 2018, B đi từ phòng trọ đến nhà bà H ở gần phòng trọ của B để mua nước đá thì gặp chị Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1991, ngụ khóm 3, phường 7, thành phố Cà Mau là con ruột của bà H bán nước đá cho B. Trong lúc mua nước đá thì B phát hiện trên ghế salon nhà bà H có một cái túi xách nữ nên B nghĩ trong túi xách có tài sản rồi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trong túi xách. Sau khi bán nước đá cho B xong thì chị H vào nhà sau ăn cơm. Khoảng 15 phút sau thì B quay lại nhà bà H, B quan sát không thấy ai nên B lén lút đi vào nhà ngồi trên salon dùng tay mở túi xách thì B thấy có hai sắp tiền nên B lấy mỗi sắp một ít.

Sau đó, B đem tiền về phòng trọ và gói vào bọc nilon để trong tủ đựng thức ăn ở cặp bờ sông gần phòng trọ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày chị H phát hiện mất tiền và đến hỏi B có lấy tiền không thì B nói không có lấy. Lúc này, chị H mới trình báo Công an xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau. Sau đó, B bị mời lên làm việc, tại Công an xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, B thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt tiền của chị H và Công an xã Lý Văn Lâm đến phòng trọ của B tạm giữ số tiền mà chị H bị mất là 15.533.000 đồng (mười lăm triệu, năm trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Qua quá trình điều tra, Trần An B thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi

phạm tội, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại nên chưa gây thiệt hại cho bị hại và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.

-Về vật chứng trong vụ án:

Đối với số tiền 15.533.000 đồng qua điều tra xác định đây là tài sản của chị

Phạm Thị Ngọc H nên ngày 13 tháng 7 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố Cà Mau trả lại cho chị H số tiền 15.553.000 đồng.

-Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay bị hại không có yêu cầu gì thêm.

,

Tại cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 29/12/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Trần An B về tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ quyền

công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần An B theo cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 29/12/2021.

- Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần An B phạm tội “Trộm cắp tài

sản . Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Vật chứng không xem xét. Án phí bị cáo phải chịu theo quy định.

,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà

Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận

toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đã lén lút chiếm đoạt tài sản của Phạm Thị Ngọc H, tại khu vực ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau với giá trị tài sản là 15.553.000 đồng. Bị cáo thực hiện với hành vi lỗi cố ý trực tiếp, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, đối chiếu các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần An B phạm tội “Trộm cắp tài sản theo quy định Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Nên cáo trạng truy tố bị cáo Trần An B về tội “Trộm cắp tài sản theo

Khoản 1 Điều 173 của bộ Luật hình sự là đúng pháp luật không oan cho bị cáo.

Xét thấy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp

xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chỉ vì lười lao động, muốn hưởng thụ trên công sức của người khác, nên bị cáo lao vào con đường phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét về nhân thân của bị cáo có nhân thân xấu về tội “Trộm cắp tài sản .

Ngoài ra, quá trình phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn trong công tác điều tra và truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng. Về tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị hại đã nhận tài sản không yêu cầu gì thêm, đối chiếu với quy định của pháp luật tại điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 của bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại. Hiện bị hại đã

nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm phần bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Áp dụng nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo

phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm h,i,s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần An B phạm tội “Trộm cắp tài sản .

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần An B 01 (một ) năm tù.

Thời hạn tù tính từ tạm giữ ngày 29/10/2021 và chuyển tạm giam từ ngày

01/11/2021.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (chưa nộp).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày nhận được

bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ