vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Ph phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

Xử phạt bị cáo Trần Trọng Ph 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "- Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Ph phạm tội: «Trộm cắp tài sản» - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Ph phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 24/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.

Bà Nguyễn Thị Kim Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo.

Trần Trọng Ph; Sinh ngày: 09/5/1992; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 168/25/4B đường LTBC, Phường K, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần U và bà: Nguyễn Thị Kim H; Có vợ: Là bà Lê Thị Thu H và con: Có 01 người con, sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 25/10/2021.

Nhân thân:

- Ngày 28/3/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục

- Lao động xã hội 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số: 471/QĐ-UBND). Chấp hành xong ngày 04/4/2013 (Giấy chứng nhận số: 238/CN-TTCBGDLĐXH của Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Long An).

- Ngày 14/8/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở Xã hội Nhị Xuân để quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số: 27/QĐ-UBND). Ngày 11/10/2021, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 130/2021/QĐ-TA). Ngày 15/10/2021, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 183/QĐ-ĐTTH); khởi tố bị can đối với Trần Trọng Ph về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 96/QĐ-ĐTTH) và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Trọng Ph (Lệnh số: 13/LB-ĐTTH). Ngày 25/10/2021, Cơ sở Xã hội Nhị Xuân bàn giao Trần Trọng Ph cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 để phục vụ công tác điều tra theo các quyết định khởi tố trên.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Ông Nguyễn Ngọc Đ; Sinh năm: 1968; Trú tại: 62/12 đường THĐ, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 13/8/2021, trong lúc đang đi bộ trên đường THĐ (hướng về ngã tư đường THĐ - đường ĐNC), Trần Trọng Ph phát hiện có 01 chiếc xe gắn máy hiệu Fashion màu đỏ, biển số 51L3-2940 của ông Nguyễn Ngọc Đ đang dựng tại đầu hẻm 62 đường THĐ, Phường N, Quận F. Quan sát thấy chìa khóa xe còn cắm vào ổ khóa công tắc mà không có người trông coi, Ph liền đến mở công tắc nổ máy xe tẩu thoát về hướng đường kênh TH. Khi chạy đến giao lộ đường LCH - đường PVC thuộc Phường J, Quận F, Ph bị Công an Phường 10, Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Tại đây, Ph khai nhận đã thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe gắn máy biển số 51L3-2940 nêu trên. Vụ việc được Công an Phường 10, Quận 6 chuyển giao Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 13 tháng 8 năm 2021 của Trạm y tế Phường 14, Quận 6, Trần Trọng Ph dương tính với Heroine.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 8 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của chiếc xe gắn máy hiệu Fashion, màu đỏ, biển số 51L3-2940, số khung 10241-000858, số máy QMI-0001560 (còn khoảng 40% giá trị sử dụng) tại thời điểm ngày 13/8/2021 là: 5.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 05/CT-VKS-Q6 ngày 20 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Trọng Ph về tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Trọng Ph khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu Fashion màu đỏ (bị cáo không nhớ biển số) của ông Nguyễn Ngọc Đ tại đầu hẻm 62 đường THĐ, Phường N, Quận F vào sáng ngày 13/8/2021 như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Trọng Ph như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Trần Trọng Ph từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Ngọc Đ không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi tay dài màu xanh, chấm trắng; 01 quần sọt ngắn, màu xanh dương - màu xanh nước biển; 01 đôi dép nhựa quai ngang màu nâu, đế màu đen.

Còn chiếc xe gắn máy hiệu Fashion, màu đỏ, biển số 51L3-2940, số khung 10241-000858, số máy QMI-0001560, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả ông Nguyễn Ngọc Đ, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Trọng Ph nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Trần Trọng Ph tại phiên tòa với Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/8/2021 và Thực nghiệm điều tra ngày 23/11/2021 của Công an Quận 6 (kèm bản ảnh); Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐGTS ngày 25/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của bị hại Nguyễn Ngọc Đ và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Trọng Ph đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Trọng Ph đã lợi dụng sự sơ hở của ông Nguyễn Ngọc Đ, lén lút chiếm đoạt của ông Đ 01 chiếc xe gắn máy hiệu Fashion màu đỏ, biển số 51L3-2940 (số khung 10241-000858, số máy QMI-0001560) trị giá 5.000.000 đồng tại đầu hẻm 62 đường THĐ, Phường N, Quận F vào sáng ngày 13/8/2021. Hành vi này của bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an chung. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Trọng Ph là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự. Mặt khác, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa cho thấy bị cáo hoàn toàn hiểu và nhận thức được trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp (nhất là trong khoảng thời gian từ ngày 09/7/2021 đến hết ngày 30/9/2021), Thành phố Hồ Chí Minh đang áp dụng biện pháp giãn cách xã hội toàn Thành phố theo tinh thần Chỉ thị số: 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ với nguyên tắc «ai ở đâu thì ở đó», nhưng do tham lam, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Trọng Ph đã hoàn thành, việc bị Ph hiện bắt giữ và thu giữ lại tài sản là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo. Và như đã nêu, bị cáo có nhân thân xấu (ngày 28/3/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy). Bản thân bị cáo cũng đang chấp hành 18 tháng cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng chất ma túy theo Quyết định số: 130/2021/QĐ-TA ngày 11/10/2021 của Tòa án nhân dân Quận 6, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi trả bị hại); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm h, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận một phần quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Trần Trọng Ph còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc Đ vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra ông Đức không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường (theo Biên bản ghi lời khai ngày 14/8/2021 của Công an Quận 6 - BL19), do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Việc xử lý vật chứng: 01 cái áo sơ mi tay dài màu xanh, chấm trắng; 01 quần sọt ngắn, màu xanh dương - màu xanh nước biển; 01 đôi dép nhựa quai ngang màu nâu, đế màu đen (bị cáo Trần Trọng Ph sử dụng lúc lấy trộm tài sản), là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 69/PNK ngày 18 tháng 8 năm 2021 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 05/QĐ-VKS-Q6 ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6)

Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Fashion màu đỏ, biển số 51L3-2940, số khung 10241-000858, số máy QMI-0001560, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý trả cho ông Nguyễn Ngọc Đ (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 01/11/2021 của Công an Quận 6 - BL87), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Bị cáo Trần Trọng Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Ph phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Trọng Ph 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2021.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái áo sơ mi tay dài màu xanh, chấm trắng; 01 (một) quần sọt ngắn, màu xanh dương - màu xanh nước biển; 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu nâu, đế màu đen.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Trọng Ph phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Trần Trọng Ph có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Nguyễn Ngọc Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ