- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng A D Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tráng A D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST. Ngày: 21 - 11 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Hội thẩm nhân dân
Bà Trần Thị Thu Thủy
Ông Mùa A Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST- ST ngày 19 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo.
Tráng A D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1960, tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông: Tráng A S (Đã chết) và bà Vàng Thị S, sinh năm 1927; bị cáo có vợ là Vàng Thị D, sinh năm 1961 và 07 con. Con lớn sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 20 tháng 8 năm 2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện V cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Tráng A D: Ông Tòng Văn M, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/8/2022, Tráng A D đi bộ từ nhà tại Bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La ra đường dân sinh Bản L, xã L tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi D đang đi bộ trên đường dân sinh thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi, không quen biết. D đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine được gói bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 40.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà để sử dụng. Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày, D đang đi bộ tại đường dân sinh của Bản L, xã L thì bị tổ công tác Công an xã L, huyện V kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của D đang cầm 01 gói nilon màu hồng, bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là Heroine. Đồng thời D khai nhận là gói ma túy của D, mục đích để cho bản thân sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Tráng A D, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong gói ma túy, đồng thời dẫn giải Tráng A D về trụ sở Công an huyện V bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, giải quyết.
Ngày 20/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Tráng A D được khối lượng 0,26 gam. Lấy toàn bộ 0,26 gam làm mẫu giám định ký hiệu D, mẫu giám định được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 1421 ngày 22/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu D là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,26 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,26 gam, loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.”.
Cáo trạng số: 117/CT-VKS ngày 19/10/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Tráng A D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng; Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tráng A D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tráng A D mức án từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21(Hai mươi mốt) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tráng A D.
Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Tráng A D: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tráng A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật không oan. Tuy nhiên, sau khi bị bắt bị cáo Tráng A D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Tráng A D mức thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên và ý kiến bào chữa của người bào chữa không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Tráng A D về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Tráng A D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị giam giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai của người chứng kiến, biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 20/8/2022, bị cáo Tráng A D đã có hành vi tàng trữ 0,26 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Tráng A D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
- Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- Xét ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là chưa phù hợp với tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện V bởi lẽ tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện V ngày càng phức tạp, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi và liều lĩnh. Do đó, cần phải nghiêm trị để răn đe những kẻ phạm tội đang có ý định phạm tội. Vì vậy, không chấp nhận ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý về mức hình phạt đối với bị cáo. Đối với đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, Hội đồng xét xử chấp nhận bởi bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản. Đối với đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí nên chấp nhận ý kiến này của người bào chữa.
Bị cáo Tráng A D đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài hình phạt hính là phạt tù bị cáo Tráng A D có thể bị chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ: Tráng A D khai mua của một người phụ nữ dân tộc mông Tráng A D không biết tên địa chỉ cụ thể. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ để điều tra xử lý buộc Tráng A D phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã thu giữ.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở cùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Tráng A D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Tráng A D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/8/2022.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điển c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy.
4. Về án phí: Áp dung điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tráng A D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |