vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nông Tiến H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Tiến H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nông Tiến H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 19/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Khánh Ly

2. Ông Nguyễn Trung Kiên.

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trưởng - Kiểm sát viên

Ngày 19/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2021/TLST-HS, ngày 23/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 07/01/2022 đối với bị cáo:

Nông Tiến H - Sinh ngày: 20/5/1996 tại: thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh C; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn Sủn – Sinh năm: 1958 (đã chết) và bà: Đặng Thị Hoàn – Sinh năm: 1954; Bị cáo có vợ: Vàng Thị Nghía – Sinh năm: 1996 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Không.

Tiền sự: 01. Cụ thể: ngày 23/10/2020, Nông Tiến H bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai ra Quyết định số: 114/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng. Đến ngày 11/4/2021, Nông Tiến H bỏ trốn khỏi cơ sở. Hiện chưa chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 05/6/2018, Nông Tiến H bị Tòa án nhân dân huyện S, tính T xử phạt 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 27/2018/HSST. Hiện đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.

Ngày 26/10/2021, Nông Tiến H bị Công an huyện Than Uyên xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ hồi 21 giờ ngày 19/10/2021, tạm giam từ ngày 28/10/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên (Có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Thế C – Sinh năm: 1963.

Địa chỉ: bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1988; địa chỉ: bản P, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

- Ngƣời làm chứng: Vũ Đức H- Sinh năm: 1989; Địa chỉ: bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do).

Lò Văn S – Sinh năm: 1992; địa chỉ: bản M, xã P, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nông Tiến H đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tại thành phố L, tỉnh Lào Cai từ ngày 14/8/2020 với thời hạn 15 tháng. Đến ngày 11/4/2021, Nông Tiến H bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện ma túy sang thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu làm thuê. Ngày 08/10/2021, H đi xe khách từ thành phố Lai Châu xuống chơi nhà người quen của H là anh Vũ Đức H, sinh năm 1989, địa chỉ: bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Khoảng 08 giờ ngày 19/10/2021, H đi bộ từ nhà anh H ra đường Quốc lộ 32 để đi lên Đội 11, xã Phúc Than tìm mua ma túy để sử dụng. Khi H đi bộ được khoảng 100m thì H thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX mang biển kiểm soát 25T1-139.45 dựng ở sân nhà anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1963, trú tại, bản M, xã C, xe mô tô đang cắm chìa khóa tại ổ điện và không có người trông coi. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp, chiếm đoạt chiếc xe làm phương tiện đi lại. Sau đó, H đi đến dắt xe lùi ra và quay đầu xe ra phía ngoài đường Quốc lộ 32 về hướng thị trấn Than Uyên. Khi H điều khiển xe mô tô đi đến đầu cầu Mường Cang thuộc xã Mường Cang, để tránh bị phát hiện, H điều khiển xe mô tô rẽ phải đi theo đường bờ kè suối Nậm Bốn lên xã Hua Nà, huyện Than Uyên rồi vòng ra Quốc lộ 32 và tiếp tục điều khiển xe lên Đội 11, xã Phúc Than để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, H đã mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng và sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong Heroine, H điều khiển xe mô tô lên khu vực bờ hồ bản Noong Thăng, xã Phúc Than mở cốp xe lấy cờ lê có sẵn trong cốp tháo biển số và 02 chiếc gương chiếu hậu cho vào trong cốp để tránh bị phát hiện, sau đó, H tiếp tục điều khiển xe đi lên xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên nghỉ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H điều khiển xe đi ra quán sửa xe của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 trú tại: bản M, xã P, huyện Tân Uyên và cầm cố biển kiểm soát 25T1-139.45 và 01 bình ắc quy của xe mô tô do H trộm cắp được lấy số tiền 100.000 đồng. H không nói cho anh Tuyển biết nguồn gốc tài sản là do trộm cắp mà có. Sau khi cầm cố được tiền, H điều khiển xe mô tô đi xuống Đội 11, xã Phúc Than, huyện Than Uyên mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng và sử dụng hết. Sử dụng xong Heroine, H điều khiển xe đi về hướng Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì gặp Lò Văn S, sinh năm: 1992, địa chỉ bản M, xã P, huyện Tân Uyên xin đi nhờ xe, H chở Sơn về nhà và ngủ qua đêm tại nhà Sơn. Đến 21 giờ cùng ngày, khi Nông Tiến H đang ở nhà Lò Văn S thì H bị Công an huyện Than Uyên thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp thu giữ của H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe: Wave RSX do H trộm cắp mà có; 01 áo khoác, 01 mũ cối màu xanh.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Than Uyên đã phối hợp với Viện kiểm sát cho Nông Tiến H tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai báo. Kết quả H đã thực nghiệm phù hợp với lời khai báo và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ. Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 bình ắc quy nhãn hiệu PINACO DONGNAI và 01 biển kiểm soát 25T1-139.45 do H trộm cắp mang cầm cố tại cửa hàng nhà anh Nguyễn Văn T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 31/HĐ-ĐGTS ngày 26/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Than Uyên kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25T1-139.45 của anh Nguyễn Thế C có trị giá 13.912.500 đồng.

Đối với các vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX; 01 biển kiểm soát 25T1-139.45; 02 chiếc gương chiếu hậu; 01 bình ắc quy. Ngày 04/11/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Thế C.

Vật chứng còn lại của vụ án: 01 chiếc áo khoác, 01 mũ cối màu xanh tạm giữ của Nông Tiến H, hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thế C đã nhận lại tài sản bị trộm cắp không có đề nghị gì; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 100.000 đồng do bị cáo H cầm cố.

Bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 23/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Nông Tiến H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Lai Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Tiến H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 – Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nông Tiến H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ (19/10/2020).

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 – Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: không phải giải quyết do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác; 01 mũ cối màu xanh.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu; không có tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập bị hại anh Nguyễn Thế C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T, người làm chứng Vũ Văn H, Lò Văn S. Nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào lời khai trong hồ sơ vụ án và theo quy định tại các Điều 292, Điều 293 – Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nông Tiến H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 25T1-135.45 có tổng trị giá là 13.912.500 đồng của anh Nguyễn Thế C.

Hành vi mà bị cáo Nông Tiến H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự. Do vậy, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn xâm hại trực tiếp đến trật tự xã hội, gây mất niềm tin trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã thành niên đủ nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng với bản chất tham lam, lười lao động muốn có tiền tiêu xài cho việc sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 – BLHS.

Xét về nhân thân: Bị cáo Nông Tiến H chưa có tiền án. Song năm 2018, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện S, tính T xử phạt với hình phạt tù có thời hạn. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục ăn chơi đua đòi, nghiện chất ma túy. Vì nghiện chất ma túy nên năm 2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng kể từ ngày 14/8/2020, quá trình cai nghiện, bị cáo không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định, ngày 11/4/2021, bị cáo bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện và đến ngày 19/10/2021 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Than Uyên thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS.

Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều, khoản truy tố, mức hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy: Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự (TNDS):

Do bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: đối với 01 chiếc áo khoác, 01 mũ cối màu xanh tạm giữ của Nông Tiến H. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến xin lại nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác của vụ án:

Quá trình điều tra, Nông Tiến H khai mua Heroine của hai người phụ nữ dân tộc Mông để sử dụng nhưng không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H, Công an huyện Than Uyên đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.

Đối với anh Nguyễn Văn T là người cho H cầm cố bình ắc quy và biển số xe trộm cắp mà có; anh Lò Văn S và anh Vũ Đức H là người cho H ở nhờ nhà. Quá trình điều tra xác định anh Tuyển không biết tài sản bị cáo H cầm cố là do trộm cắp mà có; anh H, anh Sơn không biết việc H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo Nông Tiến H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo: Nông Tiến H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nông Tiến H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2021.

(Do quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án của TAND thành phố L, tỉnh Lào Cai với thời hạn chấp hành đối với Nông Tiến H là 15 tháng đang được tạm đình chỉ theo quyết định số 76/QĐ-CS ngày 24/12/2021 của Cơ sở CNMT thành phố L. Vì vậy, cần áp dụng Điều 117 – Luật xử lý vi phạm hành chính : Kể từ ngày bị cáo Nông Tiến H chấp hành hình phạt tù thì Nông Tiến H được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và quyết định số 76 sẽ hết hiệu lực).

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác và 01 chiếc mũ cối màu xanh.

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/12/2021 giữa Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 – Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Nông Tiến H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 – Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án; bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo đối với những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ