- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày 22 – 4 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH
TỈNH BÌNH TH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hạ Hải Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Xuân Vĩnh.
2. Ông Phạm Văn Tiến.
Thư ký phiên Tòa: Ông Đoàn Bá Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh tỉnh Bình Th .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tỉnh Bình Th tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thái Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLST-HS, ngày 22 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Văn Th , sinh năm 1993 tại Bình Th ; Nơi cư trú: Thôn 8, xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th ; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc Phương, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị Hơn, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 31/10/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” tại Bản án số 356/2019/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 16/5/2021, chưa Đ xóa án tích; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/10/2010 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 274/2010/HS-ST. Ngày 06/11/2012 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 258/2012/HS-ST và ngày 15/4/2015 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2015/HS-ST.
Bị cáo bị bắt ngày 18/01/2022, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tánh Linh cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Triều V, sinh năm 2001 tại Bình Th ; Nơi cư trú: Thôn 8, xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc Phương, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị Hơn, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại:
1. Chị Trà Thị Mỹ Tr, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khu phố Trà Cụ, thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th . Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Tuấn Q, sinh năm 2008. Có mặt.
3. Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Tuấn Quỳnh: Bà Bùi Thị Đoan Thùy, sinh năm 1973. Có mặt.
Cùng nơi cư trú: Thôn 3, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phan Long Đ, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn 7, xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th . Vắng mặt.
2. Anh Lưu Phi H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 3, xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th . Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:
Theo cáo trạng số 13/CT-VKSND–TL, ngày 15/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, các bị cáo Phạm Văn Th và Phạm Triều V đã thực hiện hành vi như sau:
Phạm Văn Th là đối tượng chấp hành xong hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trở về địa phương sinh sống. Vào khoảng 00 giờ 30 ngày 24/10/2021, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Th đã rủ em ruột là Phạm Triều V đi đến Cơ sở cách ly tập trung điều trị bệnh Covid-19 tại Trường pH thông dân tộc nội trú Tánh Linh, thuộc khu phố Lạc Hưng 2, thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh để trộm cắp tài sản. Sau khi bàn bạc, thống nhất thì V mượn xe mô-tô biển kiểm soát 86H8-2129 của anh Phan Long Đ để chở Th đi đến trước cổng Trường pH thông dân tộc nội trú Tánh Linh. Phạm Triều V đứng trước cổng cảnh giới, còn Phạm Văn Th trèo qua hàng rào của khu cách ly, đột nhập vào phòng số 18 là phòng cách ly của chị Trà Thị Mỹ Tr lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 rồi tiếp tục vào phòng số 20 là phòng cách ly của anh Nguyễn Tuấn Q lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Vmat Start 5 của anh Quỳnh. Đến sáng ngày 24/10/2021, Th bán điện thoại Vsmat Start 5 cho anh Lưu Phi Hổ, chủ cửa hàng điện thoại tại thôn 8, xã Gia An với giá 1.000.000 đồng. Chiếc điện thoại Redmi Note 8 còn lại Th cất dấu tại nhà.
Bản kết luận định giá tài sản số 21, ngày 05/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tánh Linh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 màu xanh nước biển trị giá 2.700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Smart Sart 5 màu xanh lá cây trị giá 2.170.000 đồng. Tổng trị giá 4.870.000 đồng (vào thời điểm thiệt hại ngày 24/10/2021).
Tại bản cáo trạng số: 13/CT – VKSND – TL, ngày 15/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh truy tố bị cáo Phạm Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản" theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Phạm Triều V về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th phát biểu ý kiến đề nghị như sau:
- Khẳng định Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th và bị cáo Phạm Triều V đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th từ 03 năm đến 04 năm tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 và Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Triều V từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tánh Linh đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 cho chủ sỡ hữu là chị Trà Thị Mỹ Tr và 01 điện thoại di động hiệu Vmat Start 5 cho chủ sỡ hữu là anh Nguyễn Tuấn Q nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố; Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai thắc mắc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Do đó những hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên Tòa, các bị cáo Phạm Văn Th và Phạm Triều V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã Đ thu thập trong quá trình điều tra; do đó có đủ căn cứ để xác định được: Vào khoảng 00 giờ 30, ngày 24/10/2021; tại Cơ sở cách ly tập trung điều trị bệnh Covid-19 đóng tại Trường pH thông dân tộc nội trú Tánh Linh; thuộc khu phố Lạc Hưng 2, thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh; bị cáo Phạm Triều V đã có hành vi giúp sức, cảnh giới cho bị cáo Phạm Văn Th trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 của chị Trà Thị Mỹ Tr trị giá 2.700.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Vmat Start 5 của anh Nguyễn Tuấn Q trị giá 2.170.000 đồng. Tổng trị giá tài sản các bị cáo trộm cắp là 4.870.000 đồng.
Bị cáo Phạm Văn Th ngày 31/10/2019 đã bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” tại Bản án số 356/2019/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 16/5/2021; chưa Đ xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên hành vi của bị cáo Th đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản" với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Riêng hành vi của bị cáo Phạm Triều V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” Đ quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn Th và Phạm Triều V phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều Đ hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên Tòa, bị hại – anh Nguyễn Tuấn Q xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Triều V nên bị cáo V còn Đ hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án và mức hình phạt dành cho các bị cáo:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Phạm Văn Th đóng vai trò chủ mưu, rủ rê đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại. Bị cáo Phạm Triều V là đồng phạm, giúp sức mượn phương tiện để chở và đứng cảnh giới cho bị cáo Th trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, vai trò giúp sức của bị cáo V chỉ dừng lại ở đó chứ không tham gia tiêu thụ tài sản hay Đ chia tiền có Đ từ việc bán tài sản trộm cắp Đ của bị cáo Th .
Từ phân tích về vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án; theo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà mỗi bị cáo Đ hưởng. Khi quyết định hình phạt, cần áp dụng cho bị cáo Th mức án cao hơn bị cáo V là phù hợp.
Xét thấy bị cáo Phạm Triều V có quá trình nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội trong trường hợp bị anh trai là bị cáo Phạm Văn Th tác động, rủ rê. Hiện tại bị cáo V có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo; giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sống có ích cho xã hội là phù hợp với quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam. Bị cáo V làm nghề nông nhưng không có thu nhập ổn định, do đó cần miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, các bị hại đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
Về vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tánh Linh đã thu giữ và giao trả lại cho chị Trà Thị Mỹ Tr 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 và anh Nguyễn Tuấn Q 01 điện thoại di động hiệu Vmat Start 5. Chị Tr và anh Q không có ý kiến gì về những vật chứng đã thu giữ và giao trả nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với anh Phan Long Được, là người đã có cho bị cáo Phạm Triều V mượn xe máy biển kiểm soát 86H8-2129. Tuy nhiên, anh Đ không biết bị cáo V mượn xe máy của mình đi trộm cắp tài sản, do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với hành vi của anh Được.
Đối với anh Lưu Phi Hổ, là người đã mua lại điện thoại Vsmat Start 5 từ bị cáo Phạm Văn Th nhưng anh H không biết Đ đây là tài sản do bị cáo Th trộm cắp mà có được, do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Hổ.
. Về án phí: Cần buộc các bị cáo Phạm Văn Th và Phạm Triều V phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh:
Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã Đ sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Th và Phạm Triều V đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Căn cứ: Điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/01/2022.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1, khoản 2 Điều 52 và Điều 36 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Triều V 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức Đ giao giám sát, giáo dục bị cáo Phạm Triều V nhận Đ Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phạm Triều Vỹ.
Giao bị cáo Phạm Triều V cho UBND xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Th để giám sát, giáo dục.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Văn Th và Phạm Triều V mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa Đ quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/4/2022. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa Đ quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận Đ bản án hoặc bản án Đ niêm yết công khai (đã giải thích quyền kháng cáo).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Tánh Linh; - CQCSĐT C.A huyện; - Cơ quan THAHS - Công an huyện; - Nhà tạm giữ - CA huyện; - UBND xã Gia An (Thay t/b); - Sở TP T. Bình Th ; - C.C T.H.A DS (khi án có HLPL); - Lưu án văn, HSVA; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hạ Hải Hồ |