- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 127; khoản 2 Điều 131 BLDS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:15/2022/HS-ST Ngày 18 -5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đình Quế; Ông Hoàng Văn Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số:14 /2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Thị H, sinh ngày 23/6/1988 tại xã Hoằng Phụ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Phú Xuân, xã Hoằng Đông, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương M Họa và bà Nguyễn Thị Tỳ. Gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ ba. Có chồng Chu Văn Quân, sinh năm 1984 (đã ly hôn), chồng hiện tại là Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1994. Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 24 tháng 6 năm 2016 bị Công an huyện Hậu Lộc xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 10/3/2022 bị Công an huyện Hậu Lộc xử phạt bằng 02 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình hình thức phạt tiền về 02 hành vi Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác vào thời gian tháng 8/2020 và 11/2021. Bị cáo chưa chấp hành 02 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Bị hại:
1. Bà Lê Thị K, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Lam Hạ, xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Phú Trung, xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
3. Chị Dương Thùy L, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: 16/401 Phù Nghĩa, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định, Nam Định.
4. Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: SN 21, Yên Vực, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa.
5. Chị Ngô Thị Th, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Thành Tín, xã Xuân Lộc, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
6. Chị Phạm Thị Th H, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Xuân Đồng, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
7. Chị Phan Thị V, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Hà Xuân, xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Mai Thị Nh, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Châu Sơn, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa.
3. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thịnh Mỹ 1, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
2. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu Trung Tâm, thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
3. Chị Lê Thị H, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Bản Thành, xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm và Th nhập ổn định, Trương Thị H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức mua hàng hóa nhưng không trả tiền, rồi chiếm đoạt hàng, sau đó mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 12 năm 2021, H đã lừa dối để mua hàng hóa của 09 người với tổng trị giá 37.997.000 đồng rồi chiếm đoạt, cụ thể:
Người thứ nhất: Năm 2018, trong thời gian sinh sống ở nhà chồng tại xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Do quen biết bà Lê Thị K sinh năm 1960 cư trú ở thôn Lam Hạ, xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa và biết bà K có trang trại chăn nuôi gia cầm nên H đã nhiều lần mua nợ gà, ngan, vịt của bà K về ăn; thấy bà K vẫn đồng ý bán nợ nên H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà K. Ngày 02 tháng 8 năm 2018, H đến gặp bà K và nói dối bà K là nhà mình chuẩn bị làm đầy tháng cho con trai nên cần mua một số gà, ngan về làm cỗ. Nghe H nói vậy, bà K đồng ý bán cho H 03 con ngan có tổng khối lượng 11,8kg với giá 70.000 đồng/kg, tính tròn số tiền là 830.000 đồng; 01 con gà khối lượng 2,4kg với giá 290.000 đồng - Tổng cộng số tiền là 1.120.000 đồng. Sau đó, H đã mang số hàng này đến Chợ Sơn, xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc bán rẻ cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân, không trả tiền cho bà K.
Đến ngày 23 tháng 9 năm 2018, H tiếp tục nói dối bà K là gia đình tổ chức đám cưới cho em trai để mua ngan, vịt và ngỗng của bà K; H hứa hẹn với bà K là sau khi đám cưới xong sẽ trả đủ tiền của cả 02 lần mua hàng cho bà K, nghe H nói vậy bà K tin tưởng nên đồng ý. Sau đó, H tiếp tục mua của bà K nhiều lần với khối lượng 10kg vịt trắng với giá 40.000 đồng/kg, 40kg vịt đen với giá 42.000 đồng/kg, 02 con ngỗng có tổng khối lượng 06kg với giá 80.000 đồng/kg, 174kg ngan với giá 55.000 đồng/kg
- Tổng cộng số tiền là 12.130.000 đồng. Bà K thắc mắc và hỏi H vì sao đám cưới lại kéo dài như vậy thì H trả lời do nhà gái ở xa, vào đây cưới và đi chơi du lịch nên ở lâu. Vì đã trót bán nợ cho H nhiều lần nên bà K vẫn cố bán, mong H sẽ trả tiền cho mình. Sau các lần lừa dối lấy được hàng của bà K, H đã bán số hàng này cho người khác với giá rẻ hơn lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bà K nhiều lần hỏi nợ nhưng H đều khất nợ, không trả tiền. Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt của bà K 02 lần là 13.250.000 đồng.
Đến đầu năm 2020, Trương Thị H đến Thê phòng trọ tại khu Trung Thành, thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc để ở. Tại đây H tiếp tục lừa dối nhiều người bằng cách thức lập hai tài khoản Facebook “L Anh Nguuen”, và “Hien Truong”, để tìm những người đăng bài rao bán các loại thực phẩm như nem, giò, trứng …vv trên mạng xã hội Facebook rồi dùng thủ đoạn nhắn tin tự giới thiệu là làm nghề buôn bán nem, giò lâu năm muốn đặt cho khách hàng hoặc phục vụ các đám cưới nên cần tìm nguồn hàng đảm bảo chất lượng để làm ăn lâu dài, rồi hứa hẹn sau khi nhận được hàng sẽ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng cho các chủ hàng. Nhưng sau khi nhận được hàng do các chủ hàng tin tưởng gửi qua xe bus hoặc xe ôtô khách thì H đều viện các L do như gia đình có việc bận, người thân ốm, đau …vv để trì hoãn việc trả tiền hàng, sau đó không trả tiền, không liên lạc hoặc chặn tin nhắn của các chủ hàng để chiếm đoạt, cụ thể:
Người thứ hai: Vào giữa tháng 8/2020, thấy tài khoản Facebook “Mai Thị Nh” của chị Mai Thị Nh sinh năm 1989 cư trú ở thôn Châu Sơn, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đăng bài rao bán quả sim chín, H dùng tài khoản Facebook “HienTruong” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho chị Nh. Sau khi giới thiệu gian dối là làm nghề buôn bán ở chợ, có khách đặt trước, nếu được sẽ làm ăn lâu dài để tạo lòng tin của chị Nh, H mua của chị Nh 20kg quả sim chín với giá 23.000 đồng/kg và 100 quả trứng gà với giá 2.800 đồng/ quả - Tổng cộng số tiền là 740.000 đồng; H hứa hẹn với chị Nh sẽ chuyển ngay tiền vào tài khoản ngân hàng của chị Nh khi nhận được hàng. Nhưng sau khi nhận hàng, H viện L do để trì hoãn việc trả tiền, sau đó không trả tiền và chặn liên lạc với chị Nh. Số hàng này, H đã bán cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Người thứ ba: Ngày 26 tháng 6 năm 2021, H dùng tài khoản Facebook “Hien Truong” nhắn tin cho tài khoản Facebook “Nem chua Thanh Hóa” của chị Nguyễn Thị L sinh năm 1987 cư trú ở thôn Phú Trung, xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa giới thiệu gian dối là làm nghề buôn bán nem, giò và nhận phục vụ các đám cưới nên muốn mua hàng, chị L đồng ý. Sau đó, H mua của chị L 150 cái nem chua nhỏ với giá 1500 đồng/cái - Tổng cộng số tiền là 225.000 đồng; sáng ngày 27 tháng 6 năm 2021, H tiếp tục mua thêm 500 cái nem chua nhỏ với giá 1.500 đồng/cái và 07 cái giò dăm bông với giá 85.000 đồng/cái - Tổng cộng số tiền là 1.345.000 đồng; trưa ngày 28 tháng 6 năm 2021, H tiếp tục mua thêm 300 cái nem chua nhỏ với giá 1.500 đồng/cái, 10 cái nem cối to với giá 15.000 đồng/cái - Tổng cộng số tiền là 600.000 đồng; H hứa hẹn với chị L là khi nhận được hàng lần 03 sẽ trả đủ tiền của cả 03 lần mua hàng với tổng số tiền là 2.170.000 đồng cho chị L. Nhưng sau khi nhận hàng, H nhắn tin lại là mình bận việc, chờ em gái có lương sẽ trả tiền. Sau đó, H đã bán một số nem, giò cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân. Thấy H có ý chiếm đoạt tài sản của mình nên ngày 30 tháng 6 năm 2021 chị L đã trực tiếp xuống phòng trọ của H để hỏi nợ. Gặp chị L, H nói là không có tiền và xin khất sẽ trả sau. Phát hiện thấy số nem, giò của mình còn lại trong tủ lạnh tại phòng trọ của H, chị L đã lấy ra kiểm đếm số nem, giò còn lại trị giá 1.320.000 đồng. Chị L lấy lại số nem, giò còn lại và yêu cầu H phải trả số tiền mua nem, giò còn thiếu là 850.000 đồng. Nhưng sau đó, H không trả tiền cho chị L.
Người thứ tư: Vào các ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2021, H dùng tài khoản Facebook “Hien Truong” nhắn tin cho chị Dương Thùy L sinh năm 1995 cư trú ở 16/401 Phù Nghĩa, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định là chủ của tài khoản Facebook “Vũ Hoàng M” mua của chị L 02 lần tổng khối lượng 06kg giò bò với giá 210.000 đồng/kg, 700 cái nem nhỏ với giá 1.700 đồng/cái, 02kg thịt bò với giá 250.000 đồng/kg, 05kg giò dăm bông với giá 100.000 đồng/kg, 90 cái giò bò nhỏ với giá 3.200 đồng/cái - Tổng cộng số tiền là 3.738.000 đồng. Nhưng sau khi nhận hàng, H không trả tiền cho chị L. Số hàng này, H đã bán cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Người thứ năm: Sáng ngày 04 tháng 11 năm 2021, H dùng tài khoản Facebook “Hien Truong” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho tài khoản Facebook “An M Hà Th” của chị Nguyễn Thị Th sinh năm 1988 cư trú ở số nhà 21 Yên Vực, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giới thiệu gian dối là làm nghề buôn bán nem, giò và nhận phục vụ các đám cưới nên muốn đặt thử, nếu ngon sẽ làm ăn lâu dài. Sau khi thống nhất giá cả, hình thức thanh toán, H mua của chị Th 06 cái giò loại 1kg/cái với giá 90.000 đồng/cái, 300 cái nem nhỏ với giá 1.400 đồng/cái. Đến ngày 07 tháng 11 năm 2021, H tiếp tục mua của chị Th 1.300 cái nem nhỏ với giá 1.400 đồng/cái - Tổng số tiền của 02 lần mua hàng là 2.780.000 đồng. Nhưng sau khi nhận hàng, H không trả tiền cho chị Th; chị Th đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho H nhưng bị H chặn, không liên lạc được. Số hàng này, H đã bán cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Người thứ sáu: Ngày 16 tháng 11 năm 2021, H dùng tài khoản Facebook “L Anh Nguuen” nhắn tin cho tài khoản Facebook “Ngô Thị Th” của chị Ngô Thị Th sinh năm 2000 cư trú ở thôn Thành Tín, xã Xuân Lộc, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giới thiệu gian dối là làm nghề buôn bán bánh gai, nem và muốn đặt thử hàng, nếu được sẽ làm ăn lâu dài, chị Th đồng ý. Sau đó, H mua của chị Th 800 cái nem chua với giá 1.300 đồng/cái, 20 cái bánh gai với giá 4.000 đồng/cái - Tổng cộng số tiền là 1.120.000 đồng. Chiều ngày 17 tháng 11 năm 2021, sau khi nhận được hàng, H tiếp tục nhắn tin cho chị Th mua thêm 30 quả nem thính với giá 12.000 đồng/quả, 70 cái bánh gai với giá 4.000 đồng/cái, 12 cái giò với giá 100.000 đồng/cái, 300 cái nem chua nhỏ với giá 1.300 đồng/cái - Tổng số tiền là 2.230.000 đồng; H hứa hẹn với chị Th khi nào nhận được hàng lần 02 sẽ chuyển luôn tiền mua hàng của cả 02 lần là 3.350.000 đồng cho chị Th. Thấy H đặt hàng liên tục với số lượng lớn, sợ bị lừa đảo nên chị Th nói với chồng mình là anh Trần Duy Cường sinh năm 1998 chở hàng H mua lần 02 xuống giao trực tiếp cho H để lấy tiền và chị Th nhắn tin thông báo cho H biết về việc chồng mình sẽ xuống giao hàng thì H lấy L do đang bận việc không gặp. Anh Cường chở hàng xuống thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc nhưng không gặp được H nên chở hàng đi về. Số hàng lần 01, H đã bán cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân, không trả tiền cho chị Th.
Người thứ bảy: Ngày 17 tháng 11 năm 2021, H dùng tài khoản Facebook “L Anh Nguuen” nhắn tin cho tài khoản Facebook “Th H” của chị Phạm Thị Th H sinh năm 1985 cư trú tại thôn Xuân Đồng, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Sau khi giới thiệu gian dối là làm nghề buôn bán giò, nem và nhận phục vụ các đám cưới nhằm tạo lòng tin cho chị Th H, chị Th H đồng ý và thỏa Thận giá cả, hình thức thanh toán. Sau đó, H mua của chị Th H 01 kg giò bắp với giá 250.000 đồng/kg, 05kg giò thăn với giá 170.000 đồng/kg, 01kg giò tai với giá 140.000 đồng/kg - Tổng số tiền là 1.240.000 đồng. Sau khi nhận hàng, trưa ngày 18 tháng 11 năm 2021, H tiếp tục mua 10kg giò thăn với giá 160.000 đồng/kg và nói dối là để làm cỗ đám cưới, chị Th H đồng ý và gửi hàng; H hứa hẹn với chị Th H khi nào nhận được hàng lần 02 sẽ trả đủ tiền của cả 02 lần mua hàng với tổng số tiền là 2.840.000 đồng cho chị Th H. Nhưng sau khi nhận hàng, H đã bán cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân, không trả tiền cho chị Th H.
Người thứ tám: Ngày 26 tháng 11 năm 2021, H dùng tài khoản facebook “L Anh Nguuen” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho tài khoản Facebook “M M” của chị Nguyễn Thị M sinh năm 1990 cư trú tại thôn Thịnh Mỹ 1, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa nói dối là muốn đặt nem, bánh gai cho đám cưới. Chị M thấy tài khoản Facebook của H thông tin không rõ ràng, sợ bị lừa nên đã yêu cầu H nếu mua hàng phải chuyển khoản trước một nửa tiền. H nói với chị M là mình làm ăn người lớn, lấy hàng phục vụ đám cưới, khách đặt nhiều và H cũng đặt hàng nhiều nơi nhưng chưa lừa ai bao giờ. Nghe H nói vậy, chị M đồng ý bán và không yêu cầu H đặt cọc nữa. H mua của chị M 600 cái nem chua nhỏ với giá 2.000 đồng/cái, 200 cái nem thính to với giá 20.000 đồng/cái, 40 cái bánh gai với giá 5.000 đồng/cái - Tổng cộng số tiền là 1.800.000 đồng; nhưng sau khi nhận hàng, H không trả tiền cho chị M. Chị M nhắn tin, gọi điện cho H yêu cầu trả tiền thì H giả làm em của mình nhắn tin cho chị M nói là: “Chị ấy đi viện mà không cầm máy, để tối mai chị ấy về em bảo chị ấy chuyển khoản cho chị nhé”, sau đó H chặn liên lạc với chị M. Số hàng này, H đã bán cho người khác lấy tiền tiêu cá nhân.
Người thứ chín: Ngày 04 tháng 12 năm 2021, H dùng tài khoản Facebook “L Anh Nguuen” nhắn tin cho tài khoản Facebook “Phan Thị V” của chị Phan Thị V sinh năm 1995 cư trú tại khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nói dối là làm nghề buôn bán giò, muốn đặt thử hàng về bán, chị V đồng ý. Sau đó, H mua của chị V 05kg giò bê thường với giá 140.000 đồng/kg, 05kg giò bê cuộn với giá 190.000 đồng/kg, 05kg giò bắp bê với giá 250.000 đồng/kg, 05 hũ bắp bê với giá 100.000 đồng/hũ, 10 hũ gân với giá 70.000 đồng/hũ - Tổng số tiền là 4.050.000 đồng và thỏa Thận là khi nào nhận được hàng, H sẽ chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho chị V. Nhưng sau khi nhận được hàng, H không thông báo lại và không trả tiền cho chị V. Đến chiều ngày 07 tháng 12 năm 2021, do lâu không thấy H nhắn lại, chị V đã gọi điện thoại hỏi thì H nói dối do bận chưa nhận được hàng. Sau đó, H nói dối là có đám cưới cần thêm hàng nên muốn mua 10kg giò bê thường với giá 140.000 đồng/kg, 04kg giò bê cuộn với giá 190.000 đồng/ kg, 30 bịch kẹo cu đơ với giá 1.000.000 đồng và hứa hẹn với chị V sẽ chuyển khoản đủ tiền của cả 02 lần mua hàng cho chị V sau khi nhận được hàng, chị V đồng ý và nói giờ chưa có hàng nên sẽ chuyển sau; đồng thời, chị V hỏi H đã nhận được hàng lần đầu chưa thì H trả lời là đã nhận được hàng. Sáng ngày 08 tháng 12 năm 2021, chị V gửi hàng cho H gồm 10kg giò bê thường và 05kg giò bê cuộn; khi gửi hàng, chị V thống nhất tăng số lượng từ 04kg giò bê cuộn lên 05kg cho đủ thùng, H đồng ý và hẹn sáng hôm sau sẽ lấy hàng; đồng thời H nói với chị V gửi kẹo cu đơ để H nhận luôn. Thấy H có biểu hiện lừa đảo, đồng thời lên mạng xã hội Facebook thì thấy có nhiều người đăng bài chia sẻ việc bị tài khoản Facebook “L Anh Nguuen” lừa đảo, mua hàng không trả tiền, nên sáng ngày 09 tháng 12 năm 2021 chị V đi xe ôtô cá nhân theo xe khách chở hàng lần 2 đến Quán Dốc - Thộc địa phận thôn Phú M, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa nhằm mục đích gặp H; đồng thời, trưa ngày 09 tháng 12 năm 2021, một mình H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wivern, biển số đăng ký 61S3-6322 đi lên Quán Dốc nhận hàng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi H nhận hàng thì chị V đi ra gặp H và yêu cầu H thanh toán tiền hàng lần đầu. Do H không có tiền để trả nên chị V đã báo cáo sự việc đến Công an xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc đề nghị giải quyết.
Biết không thể che giấu được hành vi của mình, Trương Thị H đã xin đầu thú và thành khẩn khai báo. Sau khi tiếp nhận, kiểm tra, xác M và tạm giữ vật chứng, Công an xã Triệu Lộc đã bàn giao người, vật chứng và hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc thụ L, giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc và Công an xã Triệu Lộc đã tạm giữ của Trương Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Wivern, biển số đăng ký 61S3-6322 cùng với đăng ký của xe mang tên chủ xe là Võ Thanh Hùng ở địa chỉ 3/13 Nhị Đồng, thị trấn Dĩ An (nay là phường Dĩ An), thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (ngày đăng ký mới 22/02/2010); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71; tạm giữ số hàng hóa mà chị V đã giao lần 02 cho H, cùng với số hàng hóa tạm giữ qua kiểm tra trong tủ lạnh tại phòng trọ của H, gồm: 05 cái giò bắp bê, 05 cái giò bê thường, 04 cái giò bê cuộn, 10 hộp gân bê ngâm, 03 hộp bắp bê ngâm - H khai nhận là tài sản đã lừa đảo chiếm đoạt lần thứ nhất của chủ tài khoản Facebook “Phan Thị V” và 01 thùng hàng trong đó có 10 cái giò bê thường, 05 cái giò bê cuộn và 30 bịch kẹo cu đơ - là tài sản H đã lừa đảo chiếm đoạt lần thứ hai của chủ tài khoản Facebook “Phan Thị V”; 06 cái giò các loại - H khai nhận là tài sản đã lừa đảo chiếm đoạt của chủ tài khoản Facebook “Th H” và 40 cái nem chua nhỏ - H khai nhận là tài sản đã lừa đảo chiếm đoạt của chủ tài khoản Facebook “M M”.
Xét thấy số hàng hóa đã tạm giữ dễ bị hư hỏng và không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ; đồng thời, căn cứ nguyện vọng của Trương Thị H và sự đồng ý của anh Nguyễn Văn Gi sinh năm 1994 cư trú ở thôn Hà Xuân, xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc - là chồng của H. Ngày 10 tháng 12 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã giao toàn bộ số hàng hóa đã tạm giữ cho anh Gi bảo quản, sử dụng; H nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại.
Trong quá trình kiểm tra, xác M vụ việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã ban hành Thông báo tìm bị hại và theo dõi thông tin phản ánh của các bị hại qua mạng xã hội để tìm bị hại.
Căn cứ báo cáo của các bị hại và tài liệu đã Th thập được. Ngày 10 tháng 12 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 659/CSĐT(ĐTTH), đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Hậu Lộc xác định tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt của chị Phạm Thị Th H, Nguyễn Thị M và Phan Thị V tại thời điểm bị chiếm đoạt - tháng 11 và tháng 12 năm 2021.
Tại Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐGHS ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng định giá kết luận: Tại thời điểm định giá - tháng 11 và tháng 12 năm 2021.
17 cái giò bê (mỗi cái có khối lượng 01kg), trong đó gồm: 01 cái giò bắp bê, 01 cái giò tai cuốn bê, 15 cái giò thịt thăn bê (là tài sản của chị Phạm Thị Th H) trị giá 2.790.000 đồng;
600 cái nem chua loại nhỏ, 20 cái nem thính loại to và 40 cái bánh gai (là tài sản của chị Nguyễn Thị M) trị giá 1.800.000 đồng;
30 cái giò bê (mỗi cái có khối lượng 01kg), trong đó gồm: 15 cái giò bê thường, 10 cái giò bê cuộn, 05 cái giò bắp bê, 10 hũ ngâm gân bê, 05 hũ ngâm bắp bê và 30 bịch kẹo cu đơ (là tài sản của chị Phan Thị V) trị giá 7.500.000 đồng.
Sau khi tiếp nhận các báo cáo và Th thập các tài liệu của những bị hại khác. Ngày 22 tháng 02 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 84/CSĐT(ĐTTH), đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Hậu Lộc xác định tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt của bà Lê Thị K và các chị Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Th, Ngô Thị Th, Mai Thị Nh, Dương Thùy L tại thời điểm bị chiếm đoạt - tháng 8 và tháng 9 năm 2018; tháng 8 năm 2020; tháng 6, tháng 10 và tháng 11 năm 2021.
Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGHS ngày 03 tháng 3 năm 2022 của Hội đồng định giá kết luận: Tại thời điểm định giá - tháng 8 và tháng 9 năm 2018; tháng 8 năm 2020; tháng 6, tháng 10 và tháng 11 năm 2021.
Tài sản của chị Nguyễn Thị L: Lần 01 gồm: 150 cái nem chua loại nhỏ có giá 225.000 đồng; lần 02 gồm: 500 cái nem chua loại nhỏ có giá 750.000 đồng, 07 cái giò dăm bông có giá 595.000 đồng; lần 03 gồm: 300 cái nem chua loại nhỏ có giá 450.000 đồng, 10 cái nem chua loại to có giá 150.000 đồng - Tổng trị giá 2.170.000 đồng;
Tài sản của chị Nguyễn Thị Th: Lần 1 gồm: 06 cái giò loại 1kg/cái có giá 540.000 đồng, 300 cái nem chua loại nhỏ có giá 420.000 đồng; lần 2 gồm: 1.300 cái nem chua loại nhỏ có giá 1.820.000 đồng - Tổng trị giá 2.780.000 đồng;
Tài sản của chị Ngô Thị Th: Lần 1 gồm: 800 cái nem chua loại nhỏ có giá 1.040.000 đồng, 20 cái bánh gai có giá 80.000 đồng; lần 2 gồm: 30 quả nem thính có giá 360.000 đồng, 70 cái bánh gai có giá 280.000 đồng, 12 cái giò có giá 1.140.000 đồng, 300 cái nem chua loại nhỏ có giá 390.000 đồng - Tổng trị giá 3.290.000 đồng;
Tài sản của bà Lê Thị K: Lần 1 gồm: 11,8kg ngan có giá 826.000 đồng, 2,4kg gà có giá 288.000 đồng; lần 2 gồm: 10kg vịt trắng có giá 400.000 đồng, 40kg vịt đen có giá 1.680.000 đồng, 06kg ngỗng có giá 480.000 đồng, 174kg ngan có giá 9.570.000 đồng - Tổng trị giá 13.244.000 đồng;
Tài sản của chị Mai Thị Nh gồm: 100 quả trứng gà có giá 280.000 đồng, 20kg quả sim chín có giá 460.000 đồng - Tổng trị giá 740.000 đồng;
Tài sản của chị Dương Thùy L gồm: 06kg giò bò có giá 1.230.000 đồng, 700 cái nem chua nhỏ có giá 1.190.000 đồng, 02kg thịt bò có giá 500.000 đồng, 05kg giò dăm bông có giá 475.000 đồng, 90 cái giò bò loại nhỏ có giá 288.000 đồng - Tổng trị giá 3.683.000 đồng.
Trương Thị H và bà Lê Thị K, chị Mai Thị Nh, chị Nguyễn Thị L, chị Dương Thùy L, chị Nguyễn Thị Th, chị Ngô Thị Th, chị Phạm Thị Th H, chị Nguyễn Thị M, chị Phan Thị V đã được thông báo nội dung kết luận định giá, cả 10 người đều đồng ý kết quả định giá và không có ai ý có kiến hay đề nghị gì.
Bà Lê Thị K, chị Mai Thị Nh, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị Th, chị Ngô Thị Th, chị Phạm Thị Th H, chị Nguyễn Thị M yêu cầu Trương Thị H phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; chị Dương Thùy L và chị Phan Thị V không yêu cầu Trương Thị H phải bồi thường thiệt hại.
Ngoài ra, kết quả điều tra còn xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Wivern, biển số đăng ký 61S3-6322 do anh Nguyễn Văn Gi sinh năm 1994 cư trú ở thôn Hà Xuân, xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc - là chồng của Trương Thị H mua (vào khoảng tháng 8 năm 2021) của một người không quen biết trong quá trình đi làm sơn ở thành phố Thanh Hóa với giá 3.500.000 đồng để làm phương tiện đi làm và do xe cũ, rách nên anh Gi không có giấy mua bán xe và sang tên chủ xe; kết quả tra cứu và kết quả xác M xác định: Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng và hiện anh Võ Thanh Hùng đã bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống, không rõ đi đâu, làm gì nên không ghi được lời khai của anh Hùng. Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 cùng với sim có số liên lạc 0914217753 do anh Gi mua và sử dụng trước đó rồi cho H mượn dùng làm phương tiện để liên lạc. Tủ lạnh mà H đã sử dụng để chứa và bảo quản nem và giò do anh Gi mua lại với giá 01 triệu đồng (vào khoảng tháng 9 năm 2021) để sử dụng.
Xe mô tô nhãn hiệu Wivern, biển số đăng ký 61S3-6322 cùng với Đăng ký của xe và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 hiện đang tạm giữ và bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị M sinh năm 1990 cư trú ở thôn Thịnh Mỹ 1, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và tài sản của chị Mai Thị Nh sinh năm 1989 cư trú ở thôn Châu Sơn, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Do trị giá tài sản bị chiếm đoạt chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc tiến hành tách hồ sơ và đề nghị Công an huyện Hậu Lộc xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Thị H; về việc bồi thường thiệt hại cho chị M và chị Nh sẽ được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Xử L vi phạm hành chính.
Tại cáo trạng số 13/CT-VKSHL ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Trương Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.
Xét tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Trương Thị H từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2021.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, Th nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, trả lại tài sản cho anh Nguyễn Văn Gi là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe máy cùng giấy tờ xe và 01 điện thoại đã Th giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 274, 275, 280 430, 440 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường, cụ thể bồi thường cho bà Lê Thị K số tiền 13.244.000 đồng; bồi thường cho chị Nguyễn Thị L số tiền 2.170.000 đồng; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th số tiền 2.780.000 đồng; bồi thường cho chị Ngô Thị Th số tiền 3.290.000 đồng; bồi thường cho chị Phạm Thị Th H số tiền 2.790.000 đồng. Tổng số tiền phải bồi thường là 24.274.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Tại phiên tòa những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị H cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cơ bản đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng Th giữ, các chứng cứ, tài liệu Th thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy: Để có tiền chi tiêu cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 12 năm 2021, Trương Thị H đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức mua hàng hóa nhưng không trả tiền, rồi chiếm đoạt hàng, sau đó mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cụ thể:
Chiếm đoạt của bà Lê Thị K sinh năm 1960 cư trú ở thôn Lam Hạ, xã Thần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tổng trị giá 13.244.000 đồng; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị L sinh năm 1987 cư trú ở thôn Phú Trung, xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa tổng trị giá 2.170.000 đồng; chiếm đoạt của chị Dương Thùy L sinh năm 1995 cư trú ở 16/401 Phù Nghĩa, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tổng trị giá 3.683.000 đồng; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Th sinh năm 1988 cư trú ở số nhà 21 Yên Vực, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tổng trị giá 2.780.000 đồng; chiếm đoạt của chị Ngô Thị Th sinh năm 2000 cư trú ở thôn Thành Tín, xã Xuân Lộc, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tổng trị giá 3.290.000 đồng; chiếm đoạt của chị Phạm Thị Th H sinh năm 1985 cư trú tại thôn Xuân Đồng, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội trị giá 2.790.000 đồng; chiếm đoạt của chị Phan Thị V sinh năm 1995 cư trú tại khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tổng trị giá 7.500.000 đồng; chiếm đoạt của chị Mai Thị Nh sinh năm 1989 cư trú ở thôn Châu Sơn, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tổng trị giá 740.000 đồng và chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị M sinh năm 1990 cư trú tại thôn Thịnh Mỹ 1, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa trị giá 1.800.000 đồng. Tổng cộng trị giá tài sản Trương Thị H đã chiếm đoạt của 09 người là 37.997.000 đồng. Trong đó tài sản chiếm đoạt của chị Mai Thị Nh (số tiền 740.000 đồng) và chị Nguyễn Thị M (số tiền 1.800.000 đồng) có giá trị tài sản chiếm đoạt dưới hai triệu đồng (tổng giá trị là 2.540.000 đồng) nên Công an huyện Hậu Lộc đã xử L bằng Quyết định xử phạt hành chính riêng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền chiếm đoạt tài sản của 07 bị hại là 35.457.000 đồng.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo nhận thức được việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Trong thời gian từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 12 năm 2021 bị cáo đã 7 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng số tiền chiếm đoạt là 35.457.000 đồng, số tiền chiếm đoạt bị cáo dùng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Việc bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhiều lần nhưng trong một thời gian dài và trong thời gian này bị cáo vẫn làm nghề tự do khác, có Th nhập, không lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và không lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính nên không Thộc trường hợp Phạm tội có tính chuyên nghiệp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy Cáo trạng số 13/CT-VKSHL ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Trương Thị H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi mà bị cáo đã thực hiện Thộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi này đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội, do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã 7 lần thực hiện hành vi lừa đảo mà mỗi lần đều đủ các đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập nên phải chịu tình tiết tăng nặng Phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đã tự nguyện đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tiền sự, ngày 24 tháng 6 năm 2016 bị Công an huyện Hậu Lộc xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.
Ngoài ra trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2021 (trong thời gian bị cáo thực hiện các hành vi phạm tội) bị cáo có 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng và bị xử L bằng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của mình nhưng chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên đánh giá về nhân thân, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, Th nhập không ổn định, đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có ý thức từ trước về việc lừa dối để chiếm đoạt tài sản nên các thỏa Thận giao dịch mua hàng của bị cáo không làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 127, khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự cần buộc bị cáo phải hoàn trả cho các bị hại có yêu cầu về giá trị tài sản đã chiếm đoạt. Cụ thể: Trả cho bà Lê Thị K số tiền 13.244.000 đồng; chị Nguyễn Thị L số tiền 2.170.000 đồng; chị Nguyễn Thị Th số tiền 2.780.000 đồng; chị Ngô Thị Th số tiền 3.290.000 đồng; chị Phạm Thị Th H số tiền 24.274.000 đồng.
Đối với các bị hại không yêu cầu (chị Dương Thùy L và Phan Thị V) không đề nghị bồi thường nên miễn xét.
Về xử L vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Wivern, biển số đăng ký 61S3-6322 cùng với Đăng ký của xe và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 hiện đang tạm giữ và bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc là tài sản của anh Nguyễn Văn Gi, anh Gi không biết H sử dụng tài sản của mình vào việc phạm tội nên trả lại cho anh Gi.
Các vấn đề khác: Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990 cư trú ở thôn Thịnh Mỹ 1, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và tài sản của chị Mai Thị Nh sinh năm 1989 cư trú ở thôn Châu Sơn, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Do trị giá tài sản bị chiếm đoạt chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc tiến hành tách hồ sơ và đề nghị Công an huyện Hậu Lộc xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Thị H; về việc bồi thường thiệt hại cho chị M và chị Nh sẽ được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Xử L vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với chị Lê Thị H sinh năm 1990 cư trú ở thôn Bản Thành, xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa và bà Hoàng Thị L sinh năm 1963 cư trú ở khu Trung Tâm, thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc là những người đã mua nem, giò của H và đã bán hộ nem, giò cho H nhưng không biết đó là tài sản do H phạm tội mà có; anh Nguyễn Văn Gi không biết H đã sử dụng xe mô tô, điện thoại và tủ lạnh vào việc phạm tội, nên những người này đều không có lỗi. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc không xem xét, xử L là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 127; khoản 2 Điều 131 BLDS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Thị H 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 09/12/2021.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trương Thị H phải bồi thường cho các bị hại (có yêu cầu) tổng số tiền là 24.274.000đồng. Cụ thể: Bồi thường cho bà Lê Thị K số tiền 13.244.000 đồng; chị Nguyễn Thị L số tiền 2.170.000 đồng; chị Nguyễn Thị Th số tiền 2.780.000 đồng; chị Ngô Thị Th số tiền 3.290.000 đồng; chị Phạm Thị Th H số tiền 2.790.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộluật dân sự năm 2015.
* Xử L vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS; khoản 2 Điều 47 BLHS. Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Wivern, biển số đăng ký 61S3-6322 cùng với Đăng ký của xe và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 cho anh Nguyễn Văn Gi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
*Về án phí: Bị cáo Trương Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.240.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hậu Lộc; - Bị cáo; Bị hại; Người có QLVNVLQ; - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc; - Công an huyện Hậu Lộc; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Sang |