- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Võ văn Toàn trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày: 01 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Ngọc Thắng – Phó bí thư đoàn thanh niên thị trấn Dran, huyện Đơn Dương.
2. Bà Nguyễn Thị Chinh – Hiệu trưởng trường Tiểu học Lam Sơn, xã Lạc Lâm huyện Đơn Dương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Phúc, Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lợi, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2022/HSST ngày 23 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Võ Văn T; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1994 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn L 2, xã X, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Ngô Văn T sinh năm 1962 và con bà Võ Thị Ngọc S, sinh năm 1965, hiện ở tại thôn L 2, xã X, huyện Đ, Lâm Đồng; Chị, em ruột: Có 04 người, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1998, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đơn Dương từ ngày 26/11/2021 đến ngày 05/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Đến ngày 27/12/2021, bị bắt tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đơn Dương. Có mặt.
- Bị hại:
Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1996; Địa chỉ: tổ dân phố L2, thị trấn D huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày: 29/3/2007; Địa chỉ tổ dân phố L2, thị trấn D huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Thị Thu H: Bà Ngô Thị Th, sinh năm: 1966; Địa chỉ: tổ dân phố L2, thị trấn D huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 23/11/2021, Ngô Võ Văn T đi bộ từ nhà ở xã Lạc Xuân – Đơn Dương đến thị trấn Dran. Khi đến nhà của bà Ngô Thị Th tại tổ dân phố Lạc Thiện 2, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương thì nhìn thấy bà Thơm đi ra khỏi nhà nên Toàn nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà Thơm để trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên Toàn leo cửa sổ bên hông nhà (cửa sổ không khóa) vào trong nhà bà Thơm, khi vào trong nhà Toàn đi vào phòng ngủ của cháu Nguyễn Thị Thu H, lục lọi và lấy trộm được số tiền 5.910.000đ là tiền của anh Nguyễn Thanh H gửi Hà để ở hộc tủ quần áo. Sau khi lấy trộm được tiền thì Toàn đã đến cửa hàng điện thoại Ngọc Hiệp ở chợ Lạc Xuân mua 01(một) điện thoại Sam Sung Galaxy A01 Core, màu xanh với số tiền là 2.100.000đ và sử dụng 1.210.000đ để chi tiêu cá nhân. Đến ngày 25/11/2021 bà Thơm đến nhà hỏi Toàn thì Toàn đã thừa nhận việc lấy trộm tiền và đã trả lại số tiền 2.600.000đ và 01 điện thoại Toàn lấy tiền trộm cắp mua được.
Cáo trạng số 12/CT-VKSĐD ngày 21/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố Ngô Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Ngô Võ Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền là 5.910.000đ tại nhà bà Ngô Thị Th vào ngày 23/11/2021 như cáo trạng nêu. Mục đích trộm để tiêu xài cá nhân và mua điện thoại di động để sử dụng. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị hại anh Nguyễn Thanh H xác định tổng số tiền bị mất là 5.910.000đ, trong đó tiền của anh là 5.800.000đ, của em gái Nguyễn Thị Thu H là 110.000đ. Anh đã được nhận lại số tiền 2.600.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A01 Core, đối với số tiền 1.210.000đ bị cáo đã tiêu xài, anh không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Đơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 23/11/2021, tại nhà bà Ngô Thị Th tại tổ dân phố Lạc Thiện 2, thị trấn Dran, Ngô Võ Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là số tiền 5.910.000đ của anh Nguyễn Thanh H và cháu Nguyễn Thị Thu H.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Võ Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố bị cáo theo điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên đã xâm phạm tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ và trả lại 01(một) điện thoại Sam Sung Galaxy A01 Core, màu xanh và số tiền 2.600.000đ cho anh Nguyễn Thanh H, sau khi nhận tài sản anh Hoàng không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.210.000đ, Toàn đã tiêu xài hết, hiện bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến. Quá trình điều tra, cháu Nguyễn Thị Thu H không có ý kiến yêu cầu gì về số tiền bị mất cắp 110.000đ nên không xem xét đến.
Đối với hành vi của anh Đỗ Ngọc Hiệp là người bán điện thoại cho Toàn, anh Hiệp không biết tiền mua điện thoại do Toàn trộm cắp mà có nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi tàng trữ 0,6128g cần sa của Ngô Võ Văn T, hiện cơ quan điều tra đã tách ra xử lý sau nên không đề cập đến.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Võ Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 27/12/2021 (Được trừ vào thời gian tạm giam từ ngày 26/11/2021 đến ngày 05/12/2021).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Ngô Võ Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo; riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TANDTỉnh Lâm Đồng; - VKSND Tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đơn Dương; - Sở tư pháp Tỉnh Lâm Đồng; - Công an huyện Đơn Dương; - Thi hành án Đơn Dương; - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ; - Lưu: HS; THA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Ngân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Ngân |