- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Hồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày: 26 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khanh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Mùi
Ông Nguyễn Thanh Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Hồng Q, Tên gọi khác: G; Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1992 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Thôn 2 xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Bính N, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/5/2015, Trịnh Hồng Q bị Công an huyện Đoan Hùng xử phạt 2.500.000đ về hành vi Xâm hại đến sức khỏe người khác. Ngày 30/6/2015, Q đã chấp hành nộp phạt xong; Ngày 24/5/2016, Trịnh Hồng Q bị Công an huyện Đoan Hùng xử phạt 750.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 01/6/2016, Q đã chấp hành nộp phạt xong; Ngày 21/09/2016, Trịnh Hồng Q bị Công an huyện Đoan Hùng xử phạt 500.000đ về hành vi Đánh nhau. Ngày 28/09/2016, Q đã chấp hành nộp phạt xong; Ngày 11/02/2018 Trịnh Hồng Q đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ, ngày 11/8/2019 Q chấp hành xong, trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. (có mặt).
* Người bị hại: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: khu 3, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969.
Địa chỉ: khu 2, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).
Anh Lê Quang T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: khu 1, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 20 giờ ngày 17/12/2021, Trịnh Hồng Q (tên thường gọi là G), sinh năm 1992, ở khu 2, xã Y, huyện Đoan Hùng cùng Bùi Văn T sinh năm 1987, ở khu 1, xã M, huyện Đ đi từ nhà anh T lên xã Y, huyện Đoan Hùng chơi. Trên đường đi, Q và T gặp Cao Thế L, sinh năm 1994, là người cùng thôn với Q đang đi ngoài đường nên rủ vào quán bia của Anh Lê Quang T, sinh năm 1983, ở khu 1, xã Y, huyện Đoan Hùng, để uống bia.
Cùng thời điểm này, Nguyễn Đức T sinh năm 1995 ở khu 3 xã T cùng nhóm bạn gồm: Lê Quang H, sinh năm 1991, Đinh Văn H, sinh năm 1991; anh Nguyễn Hảo Hoàng G, sinh năm 2001, đều là người cùng xã và anh Trương Thanh T, sinh năm 1989; anh Hoàng Văn C, sinh năm 1993, đều ở khu 3, xã Y, huyện Đoan Hùng; anh Lê Đình K, sinh năm 1981, ở phường N, T phố V, tỉnh Phú Thọ, đang ngồi uống bia tại quán anh T.
Thấy nhóm Q đi vào, anh T mời Q ngồi uống bia cùng. Trịnh Hồng Q đồng ý rồi ngồi xuống ghế uống bia cùng nhóm. Trong lúc uống bia, T và L trêu đùa nhau, T huých vai rồi ôm cổ anh L, Trịnh Hồng Q nhìn thấy tưởng T đánh L nên đứng dậy, lấy 01 điếu cày bằng tre dài 62 cm, đường kính ống điếu 4,1 cm; một đầu ống điếu gắn đầu tẩu kim loại màu trắng, ở bàn uống nước bên cạnh, dùng tay phải, vụt điếu cày về phía T nhưng không trúng. Được mọi người can ngăn nên Q không đánh T nữa.
Sau đó Trịnh Hồng Q cùng cả nhóm đứng dậy, đi về. Khi đi ra đến cửa quán, Trịnh Hồng Q thấy anh T vỗ vào người L, anh T đang đứng cạnh anh L nên đi tới đứng trước mặt anh T, dùng tay trái tát một cái trúng mặt anh T, rồi tiếp tục chạy lại gốc cây si trồng trước cửa quán bia nhặt 01 mảnh bê tông vỡ không rõ hình dạng, dài khoảng13,9 cm, rộng nhất 9,2 cm, cầm mảnh bê tông bằng tay phải, vừa chạy về phía anh T vừa chửi anh T “Địt mẹ mày”, rồi đập viên bê tông trúng vùng mặt anh T. Anh T bị thương, rách da vùng cằm bên trái, dài 2 cm; gãy xương hàm dưới, bên trái, được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Đoan Hùng, rồi chuyển tuyến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều trị đến ngày 22/12/2021, anh T ra viện về nhà.
Sau khi sự việc xảy ra Anh Nguyễn Đức T đã có đơn đề nghị khởi tố tố vụ án, xử lý Trịnh Hồng Q về hình sự. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 06/Tgt/2022 ngày 13/1/2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Anh Nguyễn Đức T là: 14%”
Ngày 13/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đoan Hùng ra Quyết định Khởi tố vụ án Hình sự, Khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trịnh Hồng Q về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại Khoản 2, Điều 134, Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSĐH ngày 12/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Trịnh Hồng Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Hồng Q từ 30 đến 36 tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bị
́ cáo bị bắt tạm giam là ngày 13/01/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Khoản 1 Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Xác nhận: Ngày 15/2/2022, gia đình bị cáo Trịnh Hồng Q đã bồi thường cho Anh Nguyễn Đức T số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Anh T đã nhận đủ tiền không có đề nghị hay ý kiến thắc mắc gì thêm. Ngoài ra anh T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cho bị cáo Q.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điếu cày bằng tre, tổng thể chiều dài 62 cm, đường kính ống điếu kích thước 4,1cm; một đầu ống điếu gắn đầu tẩu kim loại màu trắng; 01 (một) mảnh bê tông vỡ, không rõ hình dạng, kích thước: dài 13,9 cm; rộng 9,2 cm, vì không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra không ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại toà án và tại phiên toà, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật
2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, thời gian, địa điểm, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có lưu trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 22 giờ ngày 17/12/2021, tại quán bia của Anh Lê Quang T ở khu 1, xã Y, huyện Đoan Hùng, do hiểu lầm có mâu thuẫn giữa Anh Nguyễn Đức T và bạn của mình là anh Cao Thế L, bị cáo Trịnh Hồng Q đã dùng 01 điếu cày bằng tre đánh anh T nhưng không trúng, không gây thương tích. Sau khi được mọi người can ngăn, bị cáo Trịnh Hồng Q tiếp tục dùng mảnh bê tông vỡ không rõ hình dạng, dài khoảng13,9 cm, rộng nhất 9,2 cm đập vào vùng mặt Anh Nguyễn Đức T. Hậu quả anh T bị tổn thương 14% cơ thể. Hành vi dùng mảnh bê tông là hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ, gây thương tích 14% cho người khác của Trịnh Hồng Q đã cấu T tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyên Đoan Hùng truy tố bị cáo Trịnh Hồng Q về tô ̣i “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tô ̣i và đúng pháp luâ ̣t.
Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
i) Có tính chất côn đồ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. Bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo T người có ích cho gia đình và xã hội.
- Tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/2/2022, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại Anh Nguyễn Đức T số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Anh T đã nhận đủ tiền không có đề nghị hay ý kiến thắc mắc gì thêm. Ngoài ra anh T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét thấy là phù hợp cần xác nhận.
.Về xử lý vật chứng: Xét thấy 01 (một) điếu cày bằng tre, tổng thể chiều dài 62 cm, đường kính ống điếu kích thước 4,1cm; một đầu ống điếu gắn đầu tẩu kim loại màu trắng; 01 (một) mảnh bê tông vỡ, không rõ hình dạng, kích thước: dài 13,9 cm; rộng 9,2 cm, vì không còn giá trị sử dụng. Là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã bồi thường cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự .
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Hồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Hồng Q 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 13/01/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Khoản 1 Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự.
- Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Anh Nguyễn Đức T số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) điếu cày bằng tre, tổng thể chiều dài 62 cm, đường kính ống điếu kích thước 4,1cm; một đầu ống điếu gắn đầu tẩu kim loại màu trắng; 01 (một) mảnh bê tông vỡ, không rõ hình dạng, kích thước: dài 13,9 cm; rộng 9,2 cm, vì không còn giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng).
4.Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Trịnh Hồng Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp Phú Thọ; - VKS ND huyện, tỉnh; - Công an huyện Đoan Hùng; - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng; - Trại giam; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QLNV liên quan; - Lưu HSVA; VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khanh |