vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tuyên án 05/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Châu Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Châu Hoàng H 01(một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo Châu Hoàng H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/4/2022) để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Châu Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN ĐƯỚC
TỈNH LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 05 - 4 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Kim Quyên

Bà Ngô Hồng Điệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương– Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Vi - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Châu Hoàng H, tên gọi khác: H Mo; Sinh năm: 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: ấp Nhà Dài, xã TL, huyện CĐ, tỉnh LA; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Châu Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị Lệ; Vợ, con: Không có.

- Tiền án, tiền sự: Ngày 31/12/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt tù chung thân về tội: Giết người, Hiếp dâm trẻ em, Cướp tài sản, Trộm cắp tài sản và Trốn khỏi nơi giam giữ. Chấp hành xong án phạt tù ngày 11/01/2019, đã nộp xong tiền án phí nhưng chưa bồi thường dân sự số tiền 6.708.580 đồng.

Ngày 19/4/2021, bị Công an xã TL xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt).

Ngày 13/10/2021, bị UBND xã TL áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ ngày 13/10/2021 đến ngày 13/01/2022.

- Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2022 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện CĐ (có mặt).

- Bị hại: Chị Trần Thị TH, sinh năm: 1980 (vắng mặt);

Địa chỉ: khu phố 2, thị trấn CĐ, huyện CĐ, tỉnh LA.

- Người có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thanh Yến Ph, sinh năm: 2004 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp Tân Mỹ, xã M,huyện CĐ, tỉnh LA.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 03 giờ, ngày 15/11/2021, Châu Hoàng H đi bộ từ nhà đến thị trấn CĐ, tìm tài sản sơ hở của người dân để lấy trộm. H đi ngang qua nhà chị Trần Thị TH phát hiện bên hông nhà có 01 chiếc xe Honda Wave Blade màu đỏ đen, biển số 62L1-287.96 và 01 chiếc xe mô tô SH Mode màu trắng, không người trông coi. H quan sát thấy xe Honda Wave Blade biển số 62L1-287.96 không khóa cổ nên đi vào dẫn xe ra khỏi sân, dẫn bộ trên đường Quốc Lộ 50, rồi đem đến nhà của K Thanh Yến Ph (cháu của H) thuộc ấp Tân Mỹ, xã M, huyện CĐ và nói là xe của H gửi nhờ.

Đến 06 giờ, ngày 15/11/2021, chị Lan thức dậy phát hiện xe Honda Wave Blade màu đỏ đen, biển số 62L1-287.96 bị mất, chị Lan trình báo Công an sự việc trên. Phạm Bá Phi (là con của chị Lan) rủ bạn là Nguyễn Hồng Phúc, Bùi Quốc Bảo, Đặng Minh Sung cùng nhau đi tìm, sau khi xem camera của những nhà lân cận thì biết được Châu Hoàng H là người lấy cắp xe trên. Phi, Phúc, Bảo, Sung đến tìm gặp H, H thừa nhận đã lấy trộm xe Honda Wave Blade màu đỏ đen, biển số 62L1-287.96 và giao trả xe cho chị Lan. Khám xét nơi ở của Châu Hoàng H thu giữ 03 biển số xe mô tô 60T7-8990, 59M1-713.10 và 54R1-9274 trên máng xối nhà, H không biết 03 biển số trên của ai để trên máng xối nhà. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTX ngày 10/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện CĐ kết luận xe mô tô Honda Wave Blade màu đỏ đen, biển số 62L1-287.96 trị giá 7.600.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Châu Hoàng H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo trình bày: Bị cáo bị truy cứu về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai. Bị cáo không có ý kiến về Kết luận định giá tài sản và lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt mà Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép. Do khi mãn hạn tù, bị cáo xin việc làm được một thời gian; sau đó bị mất việc do chủ biết bị cáo có tiền án. Vì hết tiền nên bị cáo mới thực hiên hành vi phạm tội nhằm có Ph tiện đi lại.

Người bị hại, người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo về diễn biến sự việc và hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với xe Honda Wave Blade màu đỏ đen, biển số 62L1-287.96, chị Lan đã nhận lại được và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 10/CT-VKSCĐ ngày 10/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA truy tố bị cáo Châu Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Châu Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Châu Hoàng H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đề nghị miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không đề cập.

Ý kiến của bị cáovề quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáokhông có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét nội dung vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa có căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 03giờ, ngày 15/11/2021, tại Khu 2, thị trấn CĐ, huyện CĐ, Châu Hoàng H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô Honda Wave Blade màu đỏ đen, biển số 62L1-287.96 của chị Trần Thị TH có trị giá là 7.600.000 đồng

Tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…”

Hành vi của bị cáo Châu Hoàng H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình Sự, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA đối với bị cáolà có căn cứ. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Châu Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiên hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện giao tài sản trả cho người bị hại; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, xã hội xa lánh, không có việc làm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Xét hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người bị hại; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa Ph. Bị cáo có nhân thân xấu vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Với tính chất hành vi, khả năng nhận thức của bị cáo, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Xét bị cáo không có thu nhập nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Xét trách nhiệm dân sự: Chị Lan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét.

Về án phí: Bị cáo Châu Hoàng H chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8 Đối với Lê Thanh Yến Ph không biết xe mô tô biển số 62L1-287.96 của H gửi nhờ là tài sản trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Ph là phù hợp.

Đối với biển số 54R1-9274 không có trong hồ sơ dữ liệu; biển số 60T7-8990 là của chị Hồ Như Thủy đứng tên; biển số 59M1-713.10 là của anh Nguyễn Thanh H đứng tên chủ sở hữu, hiện không rõ các chủ sở hữu này sinh sống ở đâu. Cơ quan CSĐT tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố: Bị cáo Châu Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Châu Hoàng H 01(một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/01/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Châu Hoàng H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/4/2022) để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Châu Hoàng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được Tòa án niêm yết bản án hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đại diện hợp pháp người bị hại;

- Người bào chữa (Nếu có);

- Người có QLNVLQ;

- VKSND huyện CĐ;

- TAND tỉnh LA;

- VKSND tỉnh LA;

- Cơ quan CSĐT CA huyện CĐ;

HUỲNH HỮU NGHĨA

- Nhà tạm giữ Công an huyện CĐ;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của

Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở Kn mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở Kn mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà K Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ