vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 28/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Đoàn Xuân T 36 (ba mươi sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điều 584, điều 586 và điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, cụ thể: bị cáo Đoàn Xuân T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền là 62.500.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Đoàn Xuân T 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 28-7-2022

NHÂN DTH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê ThTh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam và ông Trà Phương Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuận, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022 đối với:

Bị cáo Đoàn Xuân T. Tên gọi khác: không; Sinh ngày 10 tháng 4 năm 2000 tại huyện B, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: đầu bếp; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Xuân T và bà Trần Thị Thu V; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: không; Tiền sự:

- Ngày 05/3/2021, bị Uỷ bT nhân dân thị trấn T, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành.

- Ngày 08/3/2021, bị Công T huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mTg theo các loại vũ khí thô sơ” với số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành.

- Ngày 01/6/2021, bị Công T xã T, huyện B lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”. Ngày 12/7/2021, bị Ủy bT nhân dân xã T, huyện B ra Quyết định số 155/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chấp hành xong vào ngày 13/10/2021.

- Ngày 21/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện B ra Quyết định số 02/QĐ-TA áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc. Ngày 21/3/2022, Cơ sở giáo dục bắt buộc A1 Bộ Công T có Quyết định số 173/QĐ-A1 tạm đình chỉ thi hành quyết định đưa vào cơ sở bắt buộc vì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

Nhân thân: Ngày 05/12/2020, bị Công T xã T, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng”, với số tiền 750.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo đTg bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 25/02/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: tổ T, thị trấn T, huyện B, Quảng Nam.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Trường T, sinh năm 2001 (vắng mặt).

Địa chỉ: tổ Đ, thị trấn T, huyện B, Quảng Nam.

+ Ông Võ Văn T, sinh năm 1991 (có mặt).

Địa chỉ: thôn D, xã Trà Sơn, huyện B, Quảng Nam.

+ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Địa chỉ: tổ Đ, thị trấn T, huyện B, Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/02/2022, bị cáo Đoàn Xuân T đăng bài viết trên trTg Facebook cá nhân của mình với nội dung “Hiếu a ok. Hiếu e tuổi lol bắt T. Mai trung hiếu là mày đó hiếu em. Tm (T) có xí đi đường cẩn thận”. Lúc này, ông Nguyễn Văn T bình luận về việc bị cáo mượn tiền của mẹ T mà không trả vào bài viết trên thì dẫn đến mâu thuẫn với bị cáo. Cả hai thách thức qua lại và hẹn gặp nhau tại quán nước “Bụi Quán” vào tối ngày hôm đó nhưng bị cáo không đi. Đến khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 09/02/2022, bị cáo điều khiển xe máy từ nhà tại thôn 01, xã T đến tiệm Minh Lúc mua hai con dao (loại thường dùng để xắt chuối, phần lưỡi bằng kim loại, một bề sắc, lưỡi dao nhọn, phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn) rồi kẹp dọc theo phần thân xe, điều khiển xe máy đi đến quán nước “Bụi Quán” tại số 34 đường Nguyễn Thị Minh Khai thuộc tổ Đồng Trường, thị trấn T, huyện B và thấy ông Nguyễn Văn Quý (là Th của T) đTg ngồi uống nước tại quán. Bị cáo hỏi ông Quý có T ở đây không thì ông Quý nói có rồi gọi ông T. Lúc này, ông T đTg nằm tại giường bên trong quán nước, khi nghe gọi thì ông T đi từ trong quán ra đoạn đường bê tông trước quán nước. Còn bị cáo đi xe máy thêm một đoạn thì dừng xe lại rồi rút hai con dao trên xe ra, mỗi tay bị cáo cầm một con dao. Cả hai cãi nhau qua lại về mâu thuẫn vào ngày hôm trước. Trong lúc cãi nhau, bị cáo có dùng dao kề vào cổ, vùng tay trái của ông T vừa nói “mi ưng cái chi”. Ông T tiến về phía bị cáo thì bị cáo dùng mũi dao đẩy vào ngực ông T làm ông T bị chảy máu. Tiếp đó, ông T cúi xuống nhặt trên đường một cục đá cầm trên tay phải và một cục gạch (loại 6 lỗ, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước 15cm x 10cm x 6,5cm, bị bể ở một phần góc) cầm trên tay trái. Ông T ném cục đá về phía bị cáo thì bị cáo quay người né tránh làm cục đá trúng vào phần lưng của bị cáo. Ông T vứt cục gạch xuống rồi bỏ chạy về phía bên trong của quán. Khi ông T chạy đến hàng rào (bằng các thTh tre đT lại với nhau, cao 95cm) tại phần sân của quán nước thì chống tay trái lên hàng rào để nhảy qua, bên ngoài hàng rào là một khu đất trống nhưng vừa nhảy được hai chân qua bên kia hàng rào, chưa kịp rút tay thì bị cáo đuổi tới và dùng tay phải cầm dao chém một phát từ trên xuống trúng vào tay trái của ông T. Ông T bỏ chạy thêm được một đoạn thì nằm gục xuống đất. Bị cáo thấy ông T gục xuống thì đi ra vị trí xe máy, cất dao lại trên xe rồi điều khiển xe đi theo hướng tổ Mậu Cà về xã T. Bị cáo đi đến khu vực mộ của ông nội bị cáo tại thôn 01, xã T cất giấu hai con dao tại đây và đi về nhà. Ông T được ông Quý đưa đi cấp cứu tại Trung T y tế huyện B và chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam để điều trị. Đến ngày 12/02/2022, ông T xin xuất viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam và nhập viện tại Trung T y tế huyện B. Ngày 21/02/2022, ông T xuất viện.

Tại Bản giám định thương số 50/GĐTT.22, ngày 16/02/2022 của Trung T Pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận về thương tích của ông Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 22% (Hai mươi hai phần trăm). Sau đó, ông Nguyễn Văn T còn đau nhiều bàn tay trái. Cẳng - bàn tay trái đTg được đặt tăng cường trên máng bột tư thế duỗi cổ tay và các ngón. Chưa kiểm tra được tổn thương nên chưa xác định tính chất, kích thước của vết thương, chức năng vận động và cảm giác cổ - bàn tay trái. Cơ quT CSĐT Công T huyện B đã Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 01/QĐ-CSĐT ngày 15/3/2022 về việc giám định tỷ lệ thương tích tại thời điểm hiện tại đối với ông Nguyễn Văn T.

Tại Bản giám định bổ sung thương tích số 97/GĐTT.22, ngày 16/3/2022 của Trung T Pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận về thương tích của ông Nguyễn Văn T như sau: Vùng cổ bên trái, ngTg qua đoạn 1/3 giữa cơ ức đòn chũm có vết xát da nhẹ đã lành, còn đóng vảy trên diện dài 5cm, rộng 0,1cm; Vết thương do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ sau ra trước, từ trái sTg phải; Vùng ngực phía trước, trên nền sụn ức sườn IV, V có vết xát da nhẹ đã lành, còn đóng vảy dài 4cm, rộng 0,1cm; Vết thương do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Mặt trước ngoài đoạn 1/3 trên cẳng tay trái có vết rách da nông, đã lành còn đỏng vảy trên diện dài 5cm, rộng 0,1cm; Vết thương do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Tay trái, từ mặt sau trong đoạn 1/3 dưới cẳng tay và cổ tay chạy theo mặt mu xương bàn V vòng qua mặt mu khớp 1, 2 các ngón V, IV, III có vết rách da, cơ và vết mổ không liên tục đã lành sẹo dài 19,5cm, rộng 0,1cm; Vết thương do vật sắc cạnh gây nên, lực tác động mạnh, hướng từ sau ra trước, chếch từ dưới lên trên, từ phải sTg trái. Bệnh nhân còn đau vùng cổ bàn tay trái, vận động gấp, ngửa cổ tay và gấp, duỗi các ngón II, III, V bàn tay trái còn hạn chế; ngón IV đTg ở tư thế duỗi, có đầu đinh kết hợp xương chòi ra đầu ngón, chưa đánh giá được chức năng vận động. Đối chiếu ngón I với các ngón II, IV, V bàn tay trái còn hạn chế nhiều, chưa cầm nắm được. Kết luận giám định: Tổn thương chủ yếu hiện tại còn thấy được ở trên bệnh nhân là các vết rách da, xát da như đã nêu ở trên. Vết thương phức tạp bàn tay trái gây gãy nền xương bàn III, IV, đứt gần lìa ngón IV, gãy chỏm xương bàn V; Gãy chỏm đốt gần ngón IV, trật hở khớp liên đốt qua ngón IV; Đứt gân duỗi ngón II, III, IV, V, đứt gân duỗi cổ tay quay đã được phẫu thuật kết hợp xương đốt bàn ngón tay trái, khâu gân duỗi tạm ổn. Hiện tại bệnh nhân còn sưng đau vùng cổ bàn tay trái do hạn chế tuần hoàn trở về, vận động gấp, ngửa cổ tay và gấp, duỗi các ngón II, III, V bàn tay trái còn hạn chế; Ngón IV đTg ở tư thế duỗi, có đầu đinh kết hợp xương chòi ra đầu ngón, chưa đánh giá được chức năng vận động. Đối chiếu ngón I với các ngón II, IV, V bàn tay trái còn hạn chế nhiều, chưa cầm nắm được. Tỉ lệ thương tích tại thời điểm giám định là 26% (Hai mươi sáu phần trăm).

Bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Đoàn Xuân T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo điểm a, i khoản 1 điều 134). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Xuân T mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời giT chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 25/02/2022.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật, buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 62.500.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 con dao, dài 83,5cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31,5cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 4cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48cm, có đường kính 2,8cm. Đây là con dao được bị cT T mTg theo và sử dụng trong quá trình phạm tội. 01 con dao, dài 83cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có bám chất màu đỏ, đã khô; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 3,5cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48,5cm, có đường kính 2,8cm. Đây là con dao được bị cT T mTg theo và sử dụng trong quá trình phạm tội, cũng là con dao gây nên thương tích chính tại vùng bày tay trái của T. 01 cục gạch, loại 6 lỗ, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước 15cm x 10cm x 6,5cm, bị bể ở một phần góc.

Bị hại ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 62.500.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và xét xử nghiêm minh đối với hành vi của bị cáo. Bị cáo nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trTh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xuất phát từ những bình luận trên trTg Facebook cá nhân giữa bị cáo Đoàn Xuân T và ông Nguyễn Văn T nên vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 09/02/2022, tại quán nước “Bụi Quán” ở số 34 đường Nguyễn Thị Minh Khai thuộc tổ Đồng Trường, thị trấn T, huyện B, bị cáo và ông Nguyễn Văn T đã cãi vả, xô xát với nhau, bị cáo đã dùng 01 con dao, dài 83,5cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31,5cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 4cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48cm, có đường kính 2,8cm chém vào bàn tay trái của ông Nguyễn Văn T, gây ra thương tích với tỷ lệ là 26%.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu và thẩm tra phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với bản giám định thương tích của Trung T pháp y tỉnh Quảng Nam, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản kiểm tra xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được các cơ quT tiến hành tố tụng thu thập.

Như vậy, bản cáo trạng số 05/CTr-VKS ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam và quT điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đoàn Xuân T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ quy định tại các điểm a và i khoản 1 điều 134).

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Đoàn Xuân T nhận thức việc xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng không tuân thủ, chấp hành mà dùng 01 con dao dài 83,5cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31,5cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 4cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48cm, có đường kính 2,8cm, là hung khí nguy hiểm gây thương tích ở tay trái của ông Nguyễn Văn T với tỷ lệ là 26%. Bên cạnh đó, hành vi của bị cáo T là vô cớ, chỉ vì những bình luận trên mạng xã hội mà gây thương tích cho bị hại, điều này thể hiện tính chất côn đồ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng đến T ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để quyết định hình phạt tương ứng thì mới thể hiện được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo Đoàn Xuân T không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, hối hận và muốn sửa chữa những sai lầm về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoT hồng của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và đánh nhau.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại bao gồm các chi phí điều trị và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 62.500.000 đồng. Bị cáo thống nhất bồi thường toàn bộ số tiền trên cho ông Nguyễn Văn T. Xét thấy, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại là phù hợp với quy định tại điều 584, điều 586 và điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quT cảnh sát điều tra Công T huyện B đã thu giữ: 01 (một) con dao, dài 83,5cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31,5cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 4cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48cm, có đường kính 2,8cm. Đã được niêm phong, bên ngoài có con dấu của Cơ quT CSĐT Công T huyện B và chữ ký của ông Lê Kim T, ông Trần Văn, bị cT Đoàn Xuân T, bà Huỳnh Thị Cúc. 01 (một) con dao, dài 83cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có bám chất màu đỏ, đã khô; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 3,5cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48,5cm, có đường kính 2,8cm. Đã được niêm phong, bên ngoài có con dấu của Cơ quT CSĐT Công T huyện B và chữ ký của ông Lê Kim T, ông Trần Văn, bị cT Đoàn Xuân T, bà Huỳnh Thị Cúc. 01 (một) cục gạch, loại 6 lỗ, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước 15cm x 10cm x 6,5cm, bị bể ở một phần góc. Xét thấy, vật chứng trên là công cụ mà bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: bị cáo Đoàn Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quT cảnh sát điều tra Công T huyện B tỉnh Quảng Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quT tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quT tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Đoàn Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Đoàn Xuân T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời giT chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt tạm giam, ngày 25/02/2022.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điều 584, điều 586 và điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, cụ thể: bị cáo Đoàn Xuân T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền là 62.500.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quT thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) con dao, dài 83,5cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31,5cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 4cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48cm, có đường kính 2,8cm. Đã được niêm phong, bên ngoài có con dấu của Cơ quT CSĐT Công T huyện B và chữ ký của ông Lê Kim T, ông Trần Văn, bị cT Đoàn Xuân T, bà Huỳnh Thị Cúc.

- 01 (một) con dao, dài 83cm (loại thường dùng để xắt chuối), có phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, bề rộng 6cm, một bề sắc, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có bám chất màu đỏ, đã khô; khuy nối phần lưỡi và phần cán dài 3,5cm; phần cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 48,5cm, có đường kính 2,8cm. Đã được niêm phong, bên ngoài có con dấu của Cơ quT CSĐT Công T huyện B và chữ ký của ông Lê Kim T, ông Trần Văn, bị cT Đoàn Xuân T, bà Huỳnh Thị Cúc.

- 01 (một) cục gạch, loại 6 lỗ, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước 15cm x 10cm x 6,5cm, bị bể ở một phần góc.

(Vật chứng trên hiện đTg được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên bản giao nhận ngày 25/7/2022).

Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bT Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đoàn Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 3.125.000 đồng (Ba triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/7/2022).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ