- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Hiếu - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15 /2022/HS-PT Ngày: 18/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thi; Bà Trần Thị Thúy Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 237/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Xuân H do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2021/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Xuân H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05/02/2001; Nơi ĐKHKTT: Xóm Minh X, xã Văn T, huyện Yh, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: đang học lớp 12; con ông: Nguyễn Xuân D – sinh năm 1977, con bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1976; Anh chị em ruột có 03 người bị cáo là con thứ 02 Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/02/2021 đến ngày 16/02/2021 được tại ngoại. Có mặt.
- Ngoài ra còn có các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo và kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ ngày 27 tháng 12 năm 2020, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Quế T, sinh ngày 14/01/2005, Nguyễn Văn L sinh ngày 18/3/2005 ngồi chơi tại khu vực cầu Ván, thuộc xóm 6, xã Văn Thành, Yên Thành thì Nguyễn Quế T nói “dưới chợ Hôm có nhiều quần áo mới, ta xuống lấy đi” thì tất cả đồng ý. Sau đó Thành về nhà lấy một chiếc xà cạy, Thái về nhà lấy một bì xác rắn màu cam rồi quay lại chỗ cả nhóm đang ngồi chờ và đi xuống chợ Hôm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đến cổng sau của chợ thì Th, Tr, H, N, T, L trèo qua bờ tường rào rồi đi vào bên trong khu vực chợ. Khi vào trong chợ, Ngân và Hiếu đứng ở khu vực bán cá của chợ để cảnh giới còn Thành, Lượng, Thái, Trường đi dọc theo dãy DA2 của chợ tìm ki ốt để trộm cắp tài sản. Khi đi đến ki ốt số 18 của anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1972 trú tại xóm Công Trung, Văn Thành thì L và T dùng xà cạy phá khóa cửa, sau khi phá khóa ki ốt xong thì N và H đi đến. Lúc này Thái đi vào bên trong ki ốt và lấy 11 chiếc áo, 11 chiếc quần rồi đưa cho L, T, T đang đứng ngoài ki ốt, Ngân và Hiếu mở miệng bì xác rắn để cho T, T, L bỏ quần và áo mới lấy trộm vào bì. Sau khi lấy được số quần áo trên, cả nhóm đưa quần áo vừa lấy được đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm Lý Nhân, xã Hợp Thành để chia nhau. Tại đây, T lấy 02 chiếc áo, H lấy 02 chiếc áo và 01 chiếc quần, T lấy 01 chiếc áo và 04 chiếc quần, N lấy 03 chiếc áo và 02 chiếc quần, T lấy 01 chiếc áo và 03 chiếc quần, L lấy 02 chiếc áo và 01 chiếc quần. Sau khi chia quần áo xong thì các đối tượng trên đưa về nhà cất dấu và sử dụng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 17 giờ ngày 11/02/2021, Nguyễn Phúc T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI của mẹ mình là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 nhắn tin cho Nguyễn Quế T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Văn L với cùng nội dung “Tối xuống chợ Hôm lấy đồ” ý Thành là rủ những người này đi trộm đồ thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Thành nhắn tin lại cho cả nhóm là “xong giao thừa ta đi” thì T, H, T, L đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/02/2021 thì T, H, L và T đi bộ đến gần nhà T thì gặp T tại đây. Khi đi T cầm theo 01 chiếc kìm cộng lực, T lấy 01 chiếc xà cạy mang theo để phá khóa. Khi đang cả nhóm đang đi bộ thì gặp cháu Phan Quốc M, sinh năm 2007 trú tại xóm Yên Thịnh, xã Văn Thành và cháu Nguyễn Tiến Q, sinh năm 2007 trú tại xóm Công Trung, xã Văn Thành đang đi xe đạp điện thì cả 05 bị cáo nhờ M và Q chở đến ngã 3 đường liên xã thuộc xóm Yên Phú, xã Văn Thành thì cả nhóm xuống xe. Sau đó cả 05 bị cáo này đi bộ đến cổng sau của chợ Hôm, trèo qua tường rào để vào bên trong chợ. Khi vào trong chợ, Trường đứng ở khu vực cổng sau chợ, H đứng ở khu vực cổng trước chợ để cảnh giới còn T cầm xà cạy, Thành cầm kìm cộng lực cùng với L đi đến ki ốt số 13 của chị Nguyễn Thị N sinh năm 1994, trú tại xóm Phan Xá, xã Hợp Thành thì dừng lại. Lúc này T dùng xà cạy phá khóa một bên cửa cuốn, bên cửa cuốn còn lại thì T, Thái, L dùng kìm cộng lực cắt đứt ổ khóa rồi mở cửa ki ốt ra. Sau khi mở được cửa thì H và T đi đến,Thái vào trong ki ốt lấy một bì xác rắn trắng rồi đi ra cùng với T mở miệng bì xác rắn chờ sẵn còn T, L, H đi vào ki ốt lấy 18 chiếc áo, 06 chiếc quần rồi bỏ vào bì xác rắn mà T và T đang cầm. Sau khi lấy xong số quần và áo nêu trên thì cả nhóm mang toàn bộ số tang vật vừa trộm được đi đến khu vực nghĩa trang xóm Lý Nhân, xã Hợp Thành để chia nhau, cụ thể: T lấy 03 chiếc áo, T lấy 04 chiếc áo và 02 chiếc quần, L lấy 04 chiếc áo và 01 chiếc quần, H lấy 04 chiếc áo và 02 chiếc quần, T lấy 03 chiếc áo và 01 chiếc quần. Sau khi chia nhau số quần áo trên các bị cáo đem về nhà cất dấu và sử dụng. Ngày 13/02/2021 khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên các đối tượng Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Quế T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn L đã ra đầu thú. Ngày 24/02/2021 Nguyễn Văn N cũng ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp các tang vật trước đó các bị cáo đã chiếm đoạt. Cụ thể: Nguyễn Phúc T đã giao nộp 05 chiếc áo, Nguyễn Đăng T giao nộp 03 chiếc quần, Nguyễn Xuân H giao nộp 06 chiếc áo và 02 chiếc quần, Nguyễn Quế T giao nộp 04 chiếc áo và 04 chiếc quần, Nguyễn Văn L giao nộp 05 chiếc áo và 03 chiếc quần, Nguyễn Văn N giao nộp 03 chiếc áo và 02 chiếc quần.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL – HĐ ĐGTS ngày 05 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá kết luận:Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Quế T, Nguyễn Văn L đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Giang ngày 27/12/2020 là 2.615.000đ (hai triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL – HĐĐGTS ngày 23 tháng 2 năm 2021 của Hội đồng định giá kết luận đối với tài sản các đối tượng chiếm đoạt ngày 12/02/2021 có tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Quế T, Nguyễn Văn L chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Ngọc ngày 11/02/2021 là 5.430.000đ (năm triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).
Tổng hai lần trộm cắp tài sản các bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Quế T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn N trộm cắp là 8.045.000đ. Ngoài hai hành vi trên vào ngày 17/01/2021 các đối tượng Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Quế T còn có hành vi lấy trộm 08 chiếc áo và 01 chiếc quần tại ki ốt của chị Lê Thị Vương, sinh năm 1981 ở xóm Vĩnh Hòa, xã Hợp Thành trị giá 1.720.000đ (một triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2021/HSST ngày 29/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An quyết định:
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, điều 38 BLHS:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 09 (chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/02/2021 đến ngày 16/02/2021.
Ngày 09/8/2021, bị cáo Nguyễn Xuân H làm đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H bổ sung nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo bị cáo Nguyễn Xuân H, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, điều 38 BLHS: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/02/2021 đến ngày 16/02/2021.
Bị cáo Nguyễn Xuân H không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ để nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân H thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như kết luận của bản án sơ thẩm: Như vậy, đủ căn cứ kết luận vào khoảng 23 giờ ngày 27 tháng 12 năm 2020 tại ki ốt bán quần áo của anh Nguyễn Văn G ở chợ Hôm xã Hợp Thành, huyện Yên Thành thì Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn N đã trộm cắp 18 chiếc áo, quần và 02 bộ quần áo với tổng giá trị tài sản là 2.615.000đ (hai triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng). Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/02/2021 tại ki ốt bán quần áo của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn G ở chợ Hôm, xã Hợp Thành thì Nguyễn Phúc T, Nguyễn Đăng T, Nguyễn Xuân H, đã trộm cắp 24 chiếc áo, quần với tổng trị giá tài sản là 5.430.000đ (năm triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Xuân H đã bị Tòa cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo Nguyễn Xuân H Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản 02 lần vào ngày 27/12/2020 và ngày 12/02/2021. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo Hiếu thuộc trường hợp "Phạm tội nhiều lần". Căn cứ Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Xuân H.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thấy rằng: Hành vi của bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho người bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đã xử phạt bị cáo 9 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là nghiêm minh. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm bản sao hợp lệ theo Huân, huy chương kháng chiến của ông Nguyễn Xuân Dung là ông nội của bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân H được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân H; Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/02/2021 đến ngày 16/02/2021.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Xuân H không phải án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND, VKSND h. Yên Thành; - Chi cục THADS h. Yên Thành; - Công an h. Yên Thành; - UBND xã Văn Thành, h. Yên Thành; - Bị cáo; - Sơ Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu Hsơ, Toà hsự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hải Minh |