vanban.org

Bản án 15/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Y C Niê và Y T Byă – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2021/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y C Niê - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2022/HS-PT

Ngày: 25/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn và ông Nguyễn Ngọc Sâm - Thư ký phiên tòa: Trần Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cầu- Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 362/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo Y C Niê và Y T Byă, về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2021/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk. * Bị cáo có kháng cáo: 1. Họ và tên: Y C Niê (tên gọi khác: Y Č Niê; Y C1 Niê; Y C2 Niê, Y C3 Niê); sinh năm 1993, tại tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn E, thị trấn P, huyện C, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Êđê; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Y N Niê và bà: H B Niê, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không; tiền án: 03 tiền án. Ngày 22/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Ngày 02/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 05/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/5/2021 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Y T Byă (tên gọi khác: Không); sinh ngày 16 tháng 8 năm 1999, tại: Tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Ê đê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Y Č0 Adrơng (Đã chết) và bà: H M Byă, bị cáo sống chung với chị H D Niê, sinh năm 1997 (không đăng ký kết hôn) và có 02 con chung: con lớn sinh năm 2018 và con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/5/2021 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào thời gian từ ngày 19/3/2021 đến ngày 11/5/2021, Y C Niê và Y T Byă đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk, cụ thể như sau: - Vụ thứ 1: Khoảng 09 giờ, ngày 19/3/2021, Y T Byă điều khiển xe mô tô biển số: 47B2 - 235.34, chở Y C Niê đến thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà ông Quảng Đ, quan sát thấy không có ai ở nhà, Y C dùng tay giật mạnh cánh cửa bếp làm bung chốt bên trong, rồi cả hai đi vào trong nhà, mỗi người vác 01 bao tiêu khô mang đến bán cho chị Huỳnh Thị N (sinh năm 1983, trú tại buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk) là chủ đại lý thu mua nông sản tại buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk, tại đây cân 02 (hai) bao tiêu được 110kg, bán được tổng số tiền hơn 7.000.000đ (bảy triệu đồng), số tiền này cả hai chia đều nhau tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 110kg hạt tiêu khô, tại thời điểm ngày 19/3/2021 trị giá là 8.360.000đ. - Vụ thứ 2: Khoảng 09 giờ, ngày 28/3/2021, Y C Niê điều khiển xe mô tô của Y C (không rõ biển số xe), chở Y T Byă đến buôn D, xã M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà rẫy của ông Nguyễn Tấn T quan sát thấy không có ai ở nhà, Y C và Y T phát hiện thấy bên hông nhà có ô thông gió nên cả hai nhặt cây có sẵn gần đó bẩy bể tường gạch nơi có ô thông gió rồi Y C trèo vào bên trong nhà kho vác 01 bao tiêu đưa qua ô thông gió cho Y T vác ra ngoài rồi quay vào vác thêm 01 bao tiêu nữa mang ra ngoài, rồi Y C điều khiển xe mô tô chở Y T cùng 02 bao tiêu mang đến bán cho bà Phạm Thị T1 là chủ đại lý thu mua nông sản tại buôn J, xã E, huyện C. Tại đây cân 02 bao tiêu được

120kg, bán được tổng số tiền hơn 7.000.000đ, số tiền này cả hai chia đều nhau tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 120kg hạt hồ tiêu khô, tại thời điểm ngày 28/3/2021 trị giá là 8.880.000đ. - Vụ thứ 3: Đêm ngày 04/4/2021, Y C Niê điều khiển xe mô tô của Y C (không rõ biển số xe), chở Y T Byă đến thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, khi cả hai đi đến nhà bà Nông Thị K thì cả hai đứng ở đường quan sát thấy không có người, cả hai vào đến cửa chính, Y T dùng tay giật bung chốt cửa rồi cả hai đi vào phòng ngủ thì thấy có nhiều bao xác rắn màu xanh, bên trong đựng hạt hồ tiêu khô nên mỗi người vác 01 bao tiêu mang ra đường, Y T điều khiển xe mô tô chở 02 bao tiêu trộm cắp được đi cất giấu ở vườn cà phê cách nhà bà K khoảng 01km, còn Y C ở lại tiếp tục vào trong nhà bà K vác thêm 02 bao tiêu nữa mang ra đường, sau đó Y T quay lại, Y C điều khiển xe chở Y T cùng 02 bao tiêu vừa lấy trộm được mang đến cất giấu cùng với 02 bao tiêu mà Y T đã cất giấu trước đó. Y C chở Y T về nhà chị H D Niê, trú tại: Buôn L, xã T, huyện C để ngủ. Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 05/4/2021, Y C điều khiển xe mô tô của Y C (không rõ biển số xe), Y T Byă điều khiển xe mô tô biển số: 47B2 - 235.34 của Y T cùng đi đến nơi đã cất giấu 04 bao tiêu đã trộm cắp được của bà K để mang đi tiêu thụ, Y C chở 02 bao, Y T chở 02 bao mang bán cho ông Hoàng Trọng H là chủ đại lý thu mua nông sản tại ngã tư xã K, huyện C. Tại đây, cân 04 bao tiêu trên được tổng cộng là 250kg, bán được tổng số tiền hơn 16.000.000đ, số tiền này cả hai chia đều nhau. Y T đã tiêu xài hết số tiền được chia, còn Y C bán xe mô tô của mình cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch được số tiền là 5.500.000đ, Y C sử dụng số tiền được chia sau khi bán tài sản trộm cắp và số tiền bán xe mô tô để mua chiếc xe mô tô biển số: 47M7 – 7858 với số tiền là 13.000.000đ tại Cửa hàng mua bán xe mô tô cũ ĐT, địa chỉ: Số 09, đường X, tổ dân phố 2, thị trấn Q, huyện C do ông Dương Đức T2, sinh năm 1973 làm chủ. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 250kg hạt hồ tiêu khô, tại thời điểm ngày 04/4/2021 có giá trị là 18.500.000đ. - Vụ thứ 4: Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 10/4/2021, Y C Niê điều khiển xe mô tô biển số: 47M7-7858, chở Y T Byă đến buôn D, xã M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà rẫy của ông Nguyễn Văn P, quan sát thấy không có ai ở nhà thì cả hai đi ra phía sau nhà rẫy ông P, đến mở cửa bếp nhưng không mở được nên cả hai dùng tay kéo bung 02 tấm ván thưng ở phía sau phòng bếp rồi cùng vào trong nhà mỗi người vác 01 bao tiêu ra ngoài, sau đó Y C

điều khiển xe mô tô chở Y T cùng 02 bao tiêu đến bán cho chị Huỳnh Thị N, là chủ đại lý thu mua nông sản tại buôn T, xã H, huyện C. Tại đây cân 02 bao tiêu được 110kg, bán được số tiền hơn 7.000.000đ, số tiền này cả hai chia đều và đã tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 110kg hạt hồ tiêu khô, tại thời điểm ngày 10/4/2021 trị giá là 7.920.000đ. - Vụ thứ 5: Khoảng 09 giờ, ngày 12/4/2021, Y Tu điều khiển xe mô tô biển số: 47B2-235.34, chở Y C đi đến thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà ông Đinh Nam P1 thì thấy cửa ngoài khóa, quan sát thấy không có người ở nhà, Y T dùng tay kéo cửa nhà bếp ra nhưng không được, lúc này Y C thấy có cửa sổ không có cánh cửa, phía ngoài được để nhiều bàn ghế che cửa sổ lại nên Y C kéo bàn ghế ra, Y T lấy 01 cây sào bằng nhôm dùng để cắt cành cây dài khoảng 04m có sẵn đưa cho Y C, Y C sử dụng cây này đưa qua song cửa sổ giật bung chốt cửa nhà bếp rồi cả hai đi vào trong nhà thì thấy có tiêu hạt khô đựng trong bạt nên cả hai lấy bao xác rắn (loại bao đựng phân NPK) có sẵn tại nhà ông P1, hốt số tiêu trong bạt vào bao rồi vác ra ngoài. Sau đó Y T điều khiển xe mô tô trên chở Y C cùng bao tiêu đến bán cho chị Huỳnh Thị N là chủ đại lý thu mua nông sản tại buôn Tr, xã H, huyện C. Tại đây cân bao tiêu được 25kg, bán được số tiền 1.700.000đ, số tiền này cả hai chia đều và đã tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 25kg hạt hồ tiêu khô, tại thời điểm ngày 12/4/2021 trị giá là 1.800.000đ. - Vụ thứ 6: Khoảng 09 giờ, ngày 14/4/2021, Y C điều khiển xe mô tô biển số: 47M7-7858 chở Y T đến thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà rẫy của ông Đặng Phúc S quan sát thấy không có ai ở nhà, Y C ngồi trên xe canh gác, còn Y T đi ra phía sau nhà ông Sỹ dùng tay kéo bung 02 tấm ván ở phía sau nhà tắm rồi đi vào phòng khách vác 01 bao tiêu ra ngoài rồi Y C điều khiển xe mô tô chở Y T cùng bao tiêu đã trộm cắp được đến bán cho chị Huỳnh Thị N là chủ đại lý thu mua nông sản tại buôn T, xã H, huyện C. Tại đây cân bao tiêu được 70kg, bán được số tiền hơn 4.500.000đ, số tiền này cả hai chia đều và đã tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 70kg hạt tiêu khô, tại thời điểm ngày 14/4/2021 trị giá là 4.900.000đ. - Vụ thứ 7: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 18/4/2021, Y C điều khiển xe mô tô biển số: 47M7-7858 chở Y T đến thôn H, xã Q, huyện C tỉnh Đăk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Nguyễn Thị H, quan sát thấy không có ai ở

nhà Y T dùng tay giật bung chốt cửa nhà bếp và đi vào trong nhà. Do trong nhà không có tiêu nên Y T đi ra ngoài sân lấy 01 bao ni lông (loại bao đựng phân) có sẵn hốt hạt điều đã khô ở sân vào bao, còn Y C đi vào trong nhà tìm tài sản và lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 8; 01 điện thoại nhãn hiệu ALPHA; 01 điện thoại FPT để trong phòng khách và số tiền 300.000đ trong túi áo khoác của bà Hương treo trong phòng ngủ. Sau đó Y C điều khiển xe mô tô trên chở Y T cùng bao hạt điều và tài sản trộm cắp được đến Buôn J, xã K bán cho một người phụ nữ đi mua dạo không rõ nhân thân lai lịch, được số tiền là 480.000đ. Sau đó, Y C đưa điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 8 cho Y T mang đi bán tại một cửa hàng điện thoại di động (không nhớ địa chỉ và tên tiệm) tại thị trấn Q, huyện C được số tiền là 700.000đ; Y C mang điện thoại di động nhãn hiệu ALPHA đi bán tại một tiệm điện thoại di động (không nhớ tên tiệm và địa chỉ) tại thị trấn Q, huyện C được số tiền là 400.000đ, còn chiếc điện thoại di động FPT Y C giữ lại để sử dụng, quá trình sử dụng thì điện thoại bị rơi, bể vỡ nên Y C đã vứt bỏ (không nhớ vị trí, nơi đã vứt). Tổng số tiền trộm cắp và bán tài sản trộm cắp được là 1.880.000 đồng, cả hai chia đều và đã tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cư M’gar kết luận: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu “Redmi Note 8” trị giá 1.800.000đ; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu “ALPHA trị giá 500.000đ; 01 điện thoại di động có bàn phím bấm, nhãn hiệu “FPT” trị giá: 100.000đ; 21 kg hạt điều khô trị giá: 504.000đ. Tổng giá trị tài sản có trị giá là 2.904.000đ. - Vụ thứ 8: Khoảng 09 giờ, ngày 26/4/2021, Y C điều khiển xe mô tô biển số: 47M7-7858 , chở Y T đến thôn H, xã M, huyện C để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà bà Triệu Thị L thì thấy không có người ở nhà nên Y C đứng ngoài cảnh giới còn Y T đi vào trong để tìm tài sản lấy trộm. Khi vào nhà, Y T thấy cửa chính khóa, bên hông nhà có mái che và có khung sắt bảo vệ nên Y T lấy cây gỗ có sẵn bẻ gãy các song sắt bảo vệ rồi trèo vào trong, do cửa bên hông chỉ khép lại nên Y T mở cửa vào trong nhà. Lúc này Y C cùng vào và thấy có nhiều bao tiêu được đựng trong bao xác rắn (loại bao đựng phân NPK) thì mỗi người vác 02 bao tiêu đi ra bằng đường đã vào rồi vác ra phía sau nhà, đồng thời lấy 02 bao xác rắn màu xanh có sẵn rồi san 04 bao tiêu vào 02 bao xác rắn màu xanh cột miệng bao lại và vác ra đường. Sau đó, Y C điều khiển xe mô tô trên chở Y T cùng 02 bao tiêu đến đại lý thu mua nông sản tại Thôn 1, xã K, huyện C bán cho ông Hoàng Trọng H là chủ đại lý thu mua nông sản tại ngã tư xã K, huyện C. Trọng lượng của 02 bao tiêu là 120kg, bán được số tiền hơn 7.000.000đ, số tiền này cả hai chia đều và đã tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cư M’gar, kết luận: 120kg hạt hồ tiêu khô, tại thời điểm ngày 26/4/2021 trị giá là 7.800.000đ. - Vụ thứ 9: Khoảng 10 giờ, ngày 02/5/2021, Y C điều khiển xe mô tô biển số: 47M7-7858 , chở Y T đến thôn H, xã Q, huyện C để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà bà Lê Thị M thì thấy cửa nhà mở và không có người nên Y C ngồi ở xe canh gác, còn Y T đi vào nhà vác ra 01 bao tiêu, sau đó Y C điều khiển xe chở Y T và bao tiêu mang đến bán cho bà Văn Thị Mỹ D là chủ đại lý thu mua nông sản tại xã M, huyện C. Tại đây cân bao tiêu được 60kg, bán được số tiền là 3.800.000đ, số tiền này cả hai chia đều và đã tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS, ngày 08/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cư M’gar, kết luận: 60kg hạt tiêu khô, tại thời điểm ngày 02/5/2021có trị giá là 4.020.000đ. - Vụ thứ 10: Khoảng 07 giờ, ngày 11/5/2021, Y C điều khiển xe mô tô biển số: 47M7-7858 chở Y T Byă đến T, xã H, huyện Č, tỉnh Đắk Lăk để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà bà Nguyễn Thị Đ1, quan sát thấy cửa nhà bà Đ1 đóng, không có người ở nhà nên Y C và Y T trèo qua hàng rào vào trong vườn cà phê bên hông nhà. Lúc này, Y T lấy 01 cây sắt dài 60cm phía sau nhà bếp, Y C lấy 01 cây gỗ dài 68cm, đường kính 4cm rồi cả hai dùng cây sắt và cây gỗ này cạy cửa sổ bên hông nhà, trèo vào trong nhà. Khi vào trong phòng khách thì thấy có nhiều bao hồ tiêu khô nên Y C vác 01 bao, Y T vác 01 bao đưa qua cửa sổ, đi ra vườn cà phê cách nhà bà Đ1 khoảng 60m thì đến đường đất, rồi Y T điều khiển xe mô tô chở 02 bao tiêu đã trộm cắp được mang đến bán cho bà Phạm Thị T1 được số tiền là 6.740.000đ, còn Y C ở lại tiếp tục vào trong nhà bà Đ1 lấy thêm 02 bao tiêu vác ra để ở đường đất đợi Y T. Sau khi bán xong 02 bao tiêu thì Y T điều khiển xe mô tô quay lại, lúc này Y C đã vác được 02 bao tiêu ra, Y T đưa xe mô tô cho Y C điều khiển xe mô tô chở 02 bao tiêu vừa lấy trộm được cùng Y T đi đến xã K, huyện C bán cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền là 5.000.000đ. Tổng số tiền mà Y T và Y C bán 04 bao tiêu đã trộm cắp được của bà Đ1 là 11.740.000đ, cả hai chia đôi số tiền này. Sau đó, Y T đã tiêu xài hết số tiền được chia, còn Y C đi đến cửa hàng điện tử Z của ông Võ Trí P để mua loa kẹo kéo với số tiền là 3.300.000đ, Y C đưa trước số tiền 2.000.000đ và nợ lại số tiền là 1.300.000đ, đồng thời Y C để lại 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 47M7- 7858 mang tên Võ Thị N và 01 giấy bán xe. Sau khi mua chiếc Loa trên thì Y C đưa về nhà em ruột là H R Niê (sinh năm: 1995, trú tại: Buôn M, thị trấn P, huyện C) gửi, số tiền còn lại Y C đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 41/KL-HĐĐGTS, ngày 17/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cư M’gar, kết luận: 192,6kg hạt hồ tiêu khô, tại thời điểm ngày 11/5/2021 có trị giá là 12.519.000đ. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2021/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định: Tuyên bố: Các bị cáo Y C Niê và Y T Byă phạm tội “Trộm cắp tài sản”; - Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Y C Niê 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17/5/2021. - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Y T Byă 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17/5/2021. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/11/2021, bị cáo Y C Niê kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 25/11/2021, bị cáo Y T Byă kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Y C Niê và Y T Byă giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên. Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử các bị cáo Y C Niê và Y T Byă về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 05 năm tù đối với bị cáo Y C Niê và 04 năm tù đối với Y T Byă mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Y C Niê và Y T Byă đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng thời gian từ ngày 19/3/2021 đến 11/5/2021 trên địa huyện C, Y C Niê và Y T Byă đã cùng nhau thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản của các gia đình ông Quảng Đ, ông Nguyễn Tấn T, bà Nông Thị K, ông Nguyễn Văn P, ông Đinh Nam P1, ông Đặng Phúc S, bà Nguyễn Thị H, bà Triệu Thị L, bà Lê Thị M, bà Nguyễn Thị Đ1, tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 77.903.000đ thì bị phát hiện và xử lý. Bị cáo Y C Niê phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm, cả hai bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung tăng nặng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Y C Niê về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Y T Byă về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Xét mức hình phạt 05 năm tù đối với bị cáo Y C Niê và 04 năm tù đối với Y T Byă mà bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Bởi lẽ, hành vi phạm tội của các bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Mặt khác, bị cáo Y C Niê có 3 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà cần giữ

nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2021/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận. [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Y C Niê và Y T Byă – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2021/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. [2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: [2.1] Áp dụng các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Y C Niê 05 (năm) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17/5/2021. [2.2] Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Y T Byă 04 (bốn) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17/5/2021. [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Y C Niê và Y T Byă mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ