vanban.org

Bản án 15/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh V, sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh V 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về án phí: Bị cáo Đỗ Minh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh V - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh V, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-PT
Ngày: 17-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Thường.

Ông Lê Xuân Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 173/2021/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Đỗ Minh V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2021/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q.

Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Minh V, sinh năm 1993 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Minh Đ, sinh năm 1938 và bà: Nguyễn Thị H (chết); có vợ: Phan Thị Thùy D, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 4/2021, Đỗ Minh V mua xe mô tô biển số 77G1-816.XX (nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn đen) với giá 45.000.000 đồng bằng hình thức trả góp ngân hàng. Nhưng do V bị nợ xấu nên nhờ cô ruột của vợ là chị Phan Thị T (sinh năm: 1982, trú tại: Thôn K, xã P, huyện T) đứng tên làm giấy tờ để mua xe. Khi làm thủ tục mua xe, V trực tiếp trả số tiền 20.000.000 đồng và chịu trách nhiệm về việc trả góp hàng tháng. Sau khi mua được xe mô tô biển số 77G1-816.XX, V nhận giấy đăng ký xe mô tô biển số 77G1-816.XX (tên đăng ký “Phan Thị T”) và là người trực tiếp quản lý, sử dụng.

Khoảng đầu tháng 6/2021, do cần tiền trả nợ nên Đỗ Minh V nảy sinh ý định đặt làm giấy đăng ký xe giả của xe mô tô biển số 77G1-816.XX đứng tên “Đỗ Minh V” với mục đích mang xe cầm cố lấy tiền. V tìm trên mạng xã hội Facebook nội dung “làm giả cà vẹt xe” rồi lấy số điện thoại liên hệ qua mạng xã hội Zalo đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 77G1-816.XX, tên đăng ký: Đỗ Minh V với giá 1.000.000 đồng và chụp gửi giấy đăng ký xe gốc để họ làm. Sau khi nhận giấy đăng ký xe giả, sợ bị phát hiện, V xóa toàn bộ tài khoản Facebook, Zalo đã liên hệ đặt làm giả nên không truy vấn được thông tin.

Sáng ngày 07/6/2021, V điều khiển xe mô tô biển số 77G1-816.XX mang theo giấy đăng ký xe mô tô giả cùng giấy chứng minh nhân dân của mình đến Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T (địa chỉ: 30 đường L, phường Đ, thành phố Q) để cầm cố. V gặp anh Kiều Thanh H thỏa thuận cầm cố xe mô tô trên nhưng anh H không chịu, nói chỉ mua bán xe chứ không cầm cố, nên V đồng ý bán xe mô tô biển số 77G1-816.XX cho anh H. Anh H kiểm tra xe mô tô biển số 77G1-816.XX trùng khớp với giấy đăng ký xe (giả) đứng tên “Đỗ Minh V”; chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Minh V nên H đồng ý mua xe mô tô trên với giá 25.000.000 đồng. Bị cáo đã viết giấy bán xe mô tô trên cho anh H, nhưng anh H yêu cầu phải qua công chứng mua bán xe rồi mới giao tiền. Sau đó, bị cáo V cùng anh H mang theo các giấy tờ liên quan đến Văn phòng Công chứng Trần Thị Q (địa chỉ: 716 T, thành phố Q) làm thủ tục hợp đồng ủy quyền mua bán xe trên. Trong lúc làm thủ tục thì chị Nguyễn Thị Thu T, là nhân viên của Văn phòng Công chứng phát hiện giấy đăng ký xe mô tô biển số 77G1-816.XX nghi vấn làm giả nên báo cáo Công an phường Đ. Công an phường Đ lập hồ sơ ban đầu và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q.

Ngày 30/7/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận:

- Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 77003799, ghi biển số đăng ký 77G1-816.XX, tên chủ xe: Đỗ Minh V là chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy giả.

2

- Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 77003799, ghi biển số đăng ký 77G1-816.XX, tên chủ xe: Phan Thị T là chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy thật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tạm giữ và trả lại cho bị cáo Đỗ Minh V 01 xe mô tô biển số 77G1-816.XX và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 77003799 ghi biển số đăng ký 77G1-816.XX, tên chủ xe Phan Thị T.

Về phần dân sự: Anh Kiều Thanh H chưa giao tiền cho bị cáo nên anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2021/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh V 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, bị cáo Đỗ Minh V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh V, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đỗ Minh V khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Bị cáo Đỗ Minh V muốn bán xe mô tô biển số 77G1-816.XX, nhưng vì bị cáo không đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, nên nảy sinh ý định đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 77G1-816.XX mang tên “Đỗ Minh V”. Sau đó, bị cáo mang xe mô tô biển số 77G1-816.XX cùng giấy chứng nhận giả này đi thực hiện giao dịch bán xe cho anh Kiều Thanh H thì bị phát hiện. Ngày 30/7/2021, Phòng Kỹ thuật

3

hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận: Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 77003799, ghi biển số đăng ký 77G1-816.XX, tên chủ xe “Đỗ Minh V” là chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy giả. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Minh V về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Đỗ Minh V, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn như bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo phải nuôi cha già, vợ đang mang thai (có đơn trình bày, được chính quyền địa phương xác nhận), nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Về án phí: Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội thì kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh V được chấp nhận một phần, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh V, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh V 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

4

2. Về án phí: Bị cáo Đỗ Minh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Phần quyết định còn lại của bản án sơ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ