vanban.org

Bản án 15/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của Quyên .

Công nhận thuận tình ly hôn giữa Quyên với Dũng. 2/Về con chung: Tiếp tục giao cháu Thơ, sinh ngày 05/4/2021 cho chị Quyên được quyền nuôi dưỡng. Do chị Quyên chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh Dũng chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Quyên xin ly hôn và yêu cầu nuôi con với anh Dũng"
  • Tòa quyết gì? 1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của Quyên .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 15 - 3 - 2022
“ V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết

- Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Sơn Mứt

2. Ông Lương Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Khâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 15 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2021/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Quyên, sinh năm 2001 – có mặt

Địa chỉ: tổ 47, khóm A, phường N, thị xã N, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Dũng, sinh năm 1990 – có mặt

Địa chỉ: tổ 8, ấp B, xã An, TX M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2021, nguyên đơn Quyên trình bày: Quyên và Dũng do tự quen biết rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào tháng 03 năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An, TX M, theo giấy kết hôn số 441, ngày 12/4/2021.

Sau ngày cưới vợ chồng sống chung tại thị xã B, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu tháng 01 năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không phù hợp với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh Dũng không chí thú làm ăn, có hành vi đánh đạp, hành hạ xúc phạm chị Quyên nhiều lần, nên đã sống ly thân từ đó cho đến nay.

Nay chị Quyên nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu ly hôn với anh Dũng. Về con chung: Có 01 con chung là: Cháu Thơ, sinh ngày 05/4/2021, hiện do chị quản lý và nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Tại bản khai ý kiến ngày 22/12/2021 và các lời trình bày tại biên bản hòa giải ngày 22/12/2021 Dũng trình bày: Dũng thừa nhận Quyên là vợ của anh, anh và Quyên do tự quen biết rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào tháng 03/2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An, thị xã M, theo giấy kết hôn số 441, ngày 12/4/2021. Sau ngày cưới vợ chồng sinh sống tại xã An, thị xã M, thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc đến đầu tháng 01 năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn theo Dũng là không đúng như Quyên trình bày, vợ chồng không có mâu thuẩn gì mà do Quyên tự ý bỏ về nhà mẹ ruột sống, anh ở nhà lo làm vườn phụ giúp gia đình và bán tạp hóa, chưa có việc làm ổn định. Nay anh đồng ý ly hôn với Quyên. Về con chung: Có 01 con chung tên: Thơ, sinh ngày 05/4/2021, hiện do Quyên quản lý và nuôi dưỡng. Khi ly hôn Dũng yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Dũng không đồng ý cho Quyên nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.

Xét mối quan hệ gia đình giữa Quyên với Dũng có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa Quyên và Dũng có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, ảnh hưởng kinh tế gia đình, Quyên tự ý bỏ đi, không chăm lo cho gia đình. Từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã mời hòa giải nhiều lần, nh m giúp hai bên đoàn tụ và cho hai bên có thời gian hàn gắn tình cảm, nhưng anh, chị không trở về đoàn tụ được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, tại phiên Tòa giữa Quyên với Dũng thuận tình ly hôn với nhau. Nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Quyên với anh Dũng theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét thấy Quyên và Dũng có chung 01 con chung là cháu: Thơ, sinh ngày 05/4/2021, hiện do Quyên quản lý và nuôi dưỡng. Quyên và Dũng không thỏa thuận được việc nuôi con.

Xét yêu cầu nuôi con của Quyên là có căn cứ chấp nhận, là phù hợp với quy định của pháp luật; Bởi cháu Thơ, sinh ngày 05/4/2021 dưới 36 tháng tuổi nên cầu được giao cho Quyên là người trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ và đúng pháp luật. Tiếp tục giao cho Quyên được quyền nuôi dưỡng cháu Thơ, sinh ngày 05/4/2021. Do Quyên chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Dũng chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Dũng có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Xét yêu cầu nuôi con chung của anh Dũng là không có căn cứ chấp nhận; bởi các lý do trên.

Về tài sản chung: Quyên và Dũng không yêu cầu giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận, không xem xét.

Về nợ chung: Quyên và Dũng không yêu cầu giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận, không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Quyên phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012286, ngày 15/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên Quyên không phải nộp thêm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 51; 55; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử;

1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của Quyên .

Công nhận thuận tình ly hôn giữa Quyên với Dũng.

2/Về con chung: Tiếp tục giao cháu Thơ, sinh ngày 05/4/2021 cho chị Quyên được quyền nuôi dưỡng. Do chị Quyên chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh Dũng chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Dũng có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

3/Về tài sản chung: Chị Quyên và anh Dũng không yêu cầu giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận, không xem xét.

4/Về nợ chung: Chị Quyên và anh Dũng không yêu cầu giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận, không xem xét.

5/Về án phí sơ thẩm: Chị Quyên phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012286, ngày 15/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã M, nên chị Quyên không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt chị Quyên, anh Dũng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ