vanban.org

Bản án 15/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc H.

Cho chị Phạm Ngọc Kiều O được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Khả Hân, sinh ngày: 06/01/2018 cho chị Phạm Ngọc Kiều O tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị O không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Ngọc Kiều O xin ly hôn anh Nguyễn Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc H.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 04-4-2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Hoàng

2. Bà Phạm Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc Kiều O, sinh năm: 1998; địa chỉ: Số 828/5 Nguyễn Văn C, phường Lộc P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1994; địa chỉ: Số 289/27 Đoàn Thị Đ, xã Lộc T, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc H sau thời gian tự nguyện tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc vào ngày 12/01/2017, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới nhau vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ chồng ở số 289/27 Đoàn Thị Điểm, xã Lộc Thanh, thành phố Bảo Lộc được khoảng 05 tháng thì gia đình anh H chuyển sang Kom Tum làm cà phê nên vợ chồng chuyển về số 828/5 Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc sinh sống. Tuy nhiên, trong thời gian này thì anh H cứ ở với chị khoảng 01 đến 02 tháng rồi lại sang Kom Tum làm cà phê với gia đình anh H. Những khi về thăm và sinh sống cùng chị và con thì anh H thường hay nhậu nhẹt, rượu chè với bạn bè mà ít giành thời gian chăm sóc vợ con nên vợ chồng thường xích mích căng thẳng, chứ không được hạnh phúc. Ngoài ra một phần nguyên nhân mâu thuẫn cũng do tính tình của hai vợ chồng ngày càng bất đồng, không hòa hợp trong mọi vấn đề của cuộc sống. Từ tháng 11/2021 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không còn con quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Nguyễn Phạm Khả Hân, sinh ngày: 06/01/2018 hiện đang do chị nuôi dưỡng, cháu đang học tại Trường mầm non Hiệp Phát, phường Lộc Phát. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hân cho đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 11/02/2022 và trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Quốc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị O sau thời gian tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc vào ngày 12/01/2017, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới nhau vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh tại số 289/27 Đoàn Thị Điểm, xã Lộc Thanh, thành phố Bảo Lộc được một thời gian thì gia đình anh chuyển sang Kon Tum làm ăn nên vợ chồng chuyển về số 828/5 Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc sinh sống. Quá trình chung sống tại số 828/5 này thì anh cứ 01 đến 02 tháng lại sang Kon Tum phụ giúp gia đình sau đó lại về sống với vợ con. Trong cuộc sống hàng ngày thì anh thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì, anh thừa nhận mỗi lần từ Kom Tum về sống với vợ con thì thỉnh thoảng anh có tham gia nhậu nhẹt cùng bạn bè nhưng anh chưa bao giờ đánh đập vợ con. Đúng là từ tháng 11/2021 đến nay vợ chồng anh đã sống ly thân với nhau. Nay chị Phạm Ngọc Kiều O yêu cầu được ly hôn thì anh không đồng ý, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Đúng là vợ chồng anh có 01 người con chung là cháu Nguyễn Phạm Khả Hân, sinh ngày: 06/01/2018 hiện đang do cả hai vợ chồng nuôi dưỡng, cháu đang học tại Trường mầm non Hiệp Phát, phường Lộc Phát. Trường hợp phải ly hôn thì anh không đồng ý giao con cho chị O mà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hân cho đến khi đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Trường hợp phải ly hôn thì anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O và bị đơn anh Nguyễn Quốc H vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Cho chị Phạm Ngọc Kiều O được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Khả Hân, sinh ngày: 06/01/2018 cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị O không yêu cầu nên không đề cập đến.

Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

Về nợ chung: Các bên không có nợ chung nên không xem xét đến.

Về án phí: Buộc nguyên đơn chị O phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Quốc H có địa chỉ cư trú tại xã Lộc Thanh, thành phố Bảo Lộc. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc Kiều O và anh Nguyễn Quốc H đã được UBND phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 12/01/2017, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H là hợp pháp.

Theo chị O, quá trình chung sống thì anh H cứ ở với chị khoảng 01 đến 02 tháng rồi lại sang Kon Tum làm cà phê với gia đình anh H, những khi về thăm và sinh sống cùng chị và con thì anh H thường hay nhậu nhẹt, rượu chè với bạn bè mà ít giành thời gian chăm sóc vợ con nên vợ chồng thường xích mích căng thẳng, không được hạnh phúc. Ngoài ra, một phần nguyên nhân mâu thuẫn cũng do tính tình của hai vợ chồng ngày càng bất đồng, không hòa hợp trong mọi vấn đề của cuộc sống.

Còn theo anh H thì trong quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng anh thừa nhận mỗi lần từ Kon Tum về sống với vợ con thì thỉnh thoảng anh có tham gia nhậu nhẹt cùng bạn bè.

Tuy nhiên, cả chị O và anh H đều xác nhận từ tháng 11/2021 đến nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau, anh H chuyển về số 289/27 Đoàn Thị Điểm, xã Lộc Thanh, thành phố Bảo Lộc sinh sống, còn chị O và con vẫn sống tại số 828/5 Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc.

Mặt khác, Tòa án đã tiến hành xác minh bà Phạm Thị Thùy Trang (mẹ đẻ của chị O, mẹ vợ của anh H) là người sống ngay cạnh nhà chị O, anh H thì được biết: “Vợ chồng chị O, anh H kết hôn là tự nguyện, sau khi kết hôn thì vợ chồng sống với nhà chồng, chỉ từ khoảng 02 năm trở lại đây thì chuyển về sinh sống với gia đình tôi (bên vợ). Quá trình chung sống với gia đình tôi thì vợ chồng không hạnh phúc mà hay cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn thì theo tôi thấy do anh H hay rượu chè, nhậu nhẹt, không quan tâm chăm sóc vợ con. Nhiều lần gia đình đã phải hòa giải, khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi nên mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng”.

Ngoài ra, Tòa án cũng xác minh chị Phạm Kiều Hạnh Trinh (là em gái của chị O, em vợ của anh H) thì được biết: “Vợ chồng chị O, anh H kết hôn là tự nguyện, sau khi kết hôn thì vợ chồng sống với nhà chồng nên tôi cũng không rõ có hạnh phúc hay không. Tuy nhiên từ khoảng 02 năm trở lại đây thì chuyển về sinh sống với mẹ đẻ tôi, gần nơi tôi sinh sống nên thường ngày hay gặp nhau. Tôi thấy vợ chồng sống không hạnh phúc mà hay cãi nhau, không quan tâm đến nhau, việc ai người nấy làm. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H hay rượu chè, nhậu nhẹt nên vợ, gia đình nói nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Ngoài ra anh H còn hay đánh bài bạc, đi làm không mang tiền về cho vợ, cuộc sống hàng ngày đều do chị O lo lắng, cáng đáng”.

Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh H là có sảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O, cho chị được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị O và anh H có 01 người con chung là cháu Nguyễn Phạm Khả Hân, sinh ngày: 06/01/2018. Từ trước đến nay cháu đều do chị O nuôi dưỡng và hiện cháu đang học tại Trường mầm non Hiệp phát, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc. Cả chị O và anh H đều thể hiện ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hân cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải xem xét đến sự đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt của con. Hiện nay, cả chị O và anh H đều có khả năng lao động, có công việc tạo ra thu nhập; chị O làm nghề may và có mở chung một quán ăn với em gái, thu nhập mỗi tháng khoảng 7.000.000đ đến 8.000.000đ. Còn anh H làm nghề lái xe tải đường dài thu nhập bình quân hơn 10.000.000đ/tháng. Vì vậy, chị O và anh H đều có khả năng nuôi con. Tuy nhiên, hiện nay chị O sống ngay cạnh nhà mẹ đẻ là bà Phạm Thị Thùy Trang, bà Trang cam kết sẽ hỗ trợ chị O nuôi dưỡng cháu Hân tốt nhất. Trong khi, anh làm nghề lái xe đường dài nên hay vắng nhà và bố mẹ anh H thường xuyên sang tỉnh Kon Tum làm ăn nên không thể hàng ngày phụ giúp anh H chăm sóc, giáo dục cháu Hân được. Mặt khác, cháu Hân là con gái, mới chỉ 04 tuổi, từ trước đến nay cháu đều do chị O trực tiếp nuôi dưỡng, cháu đang học tại Trường mầm non Hiệp Phát, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nguyễn Phạm Khả Hân cho chị O được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu Hân, đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị O không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.

Về tài sản chung: Chị O và anh H đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị O và anh H đều xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Quốc H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 146, 147, 205, 210, 220, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Ngọc Kiều O đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc H.

Cho chị Phạm Ngọc Kiều O được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Khả Hân, sinh ngày: 06/01/2018 cho chị Phạm Ngọc Kiều O tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị O không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Buộc chị Phạm Ngọc Kiều O phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0004737 ngày 20/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (chị Oanh đã nộp đủ). Anh Nguyễn Quốc H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ