vanban.org

Bản án 15/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị M xin ly hôn với anh Đỗ Ngọc T"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!THƯỜNG!TÍN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2022
V/v!tranh!chấp:!Ly!hôn!!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THƯỜNG!TÍN,!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:

Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà:!Bà Trần Thị Thu Hiền!

Các!Hội!thẩm!nhân!dân:!!!!!!!!!!!!!!Bà Nguyễn Thị Trang

Bà Lý Thị Thu Hương!

Thư!ký!phiên!toà: Bà Vũ Hà Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!Thường!Tín!tham!gia!phiên!tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 67/2022/TLST-HNGĐ ngày 18/4/2022 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐXX-ST ngày 16 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/6/2022 giữa các đương sự:

-!Nguyên đơn: Chị!Trần!Thị!M– sinh năm 1984 (có!mặt)!

Nơi đăng ký thường trú và trú tại: cụm dân cư B, xã H, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

-!Bị đơn: Anh!Đỗ!Ngọc!T!- sinh năm 1982 (vắng!mặt)!

Nơi đăng ký thường trú và trú tại: cụm dân cư B, xã H, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Trong!đơn!khởi!kiện!xin!ly!hôn!ngày!04/4/2022!và!các!văn!bản!tiếp!theo,!nguyên! đơn!là!chị!Trần!Thị!M!trình!bày:!

Chị và anh Đỗ Ngọc T được tự do, tự nguyện tìm hiểu và về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 05/3/2010 tại UBND xã H, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn đến năm 2019 vợ chồng chị thuê nhà chung sống tại cụm dân cư B, xã H, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T chơi bời, cờ bạc, nợ nần, không quan tâm đến gia đình vợ con. Trầm trọng nhất từ tháng 10 năm 2017, chị đã đưa con về sống tại nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng quay về đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung là cháu Đỗ Trần Vân K, sinh ngày 17/4/2012. Ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cháu K, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị đang làm bác sỹ tại B, có mức thu nhập là khoảng 10.000.000 đồng/01 tháng. Chị có chỗ ở ổn định tại là ở cùng bố mẹ đẻ tại cụm dân cư B, xã H, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Chị M đã nộp các tài liệu chứng cứ chứng minh về chỗ ở và thu nhập cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng chị không tranh chấp gì về tài sản chung, nợ chung và chị M không yêu cầu Tòa án xem xét.

Bị!đơn!là!anh!Đỗ!Ngọc!T!có!lời!khai!như!sau:

Anh và chị Trần Thị M về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn như chị M khai là đúng. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh chơi bời, không làm chủ được bản thân dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2017 đến nay mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau. Chị M yêu cầu ly hôn anh không đồng ý vì muốn vợ chồng quay về đoàn tụ nuôi dạy con chung.

Về con chung: Anh và chị M có một con chung là cháu Đỗ Trần Vân K sinh ngày 17/4/2012. Trường hợp chị M cương quyết ly hôn, anh có quan điểm nếu cháu K có nguyện vọng sống cùng chị M hoặc anh thì anh đồng ý, tôn trọng ý kiến của con. Nếu cháu K do anh trực tiếp nuôi dưỡng thì anh không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện anh đang làm điều dưỡng tại Khoa giám định- Viện pháp y tâm thần Trung ương, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/01 tháng. Về chỗ ở anh đang thuê nhà sống tại cụm dân cư B, xã H, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Về tài sản chung, nợ chung: anh chị không tranh chấp về tài sản, công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại!phiên!toà!hôm!nay:!!! !

+Chị M vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày

+Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín có quan điểm:

-Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình.

-Về nội dung: chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Ngọc T. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Trần Vân K sinh ngày 17/4/2012 cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh T có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: các bên đương sự không yêu cầu nên không xét.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan điểm của bị đơn, xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28- Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Đỗ Ngọc T đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227-Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M và anh Đỗ Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 05/3/2010 tại UBND xã H, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Chị M và anh T xác nhận từ năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh T không đồng ý ly hôn vì muốn vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng anh T không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn tình cảm mâu thuẫn vợ chồng và vắng mặt tại phiên hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị M là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 51, 56 - Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Ngọc T.

[4] Về con chung: chị M và anh T có một con chung là cháu Đỗ Trần Vân K sinh ngày 17/4/2012. Quan điểm của chị M là xin trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nguyện vọng của K là muốn sống cùng mẹ. Anh T có quan điểm nếu cháu K có nguyện vọng muốn sống cùng chị M thì anh đồng ý. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Trần Vân K sinh ngày 17/4/2012 cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị M, anh T không tranh chấp và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.

[6]Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7]Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Áp dụng:!

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 26- Luật thi hành án dân sự năm 2008.

- Điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị M. Chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Ngọc T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Trần Vân K sinh ngày 17/4/2012 cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M, anh T không tranh chấp và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp tại biên lai số AA/2020/0022834 ngày 15/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Đỗ Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

6. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ