vanban.org

Bản án 15/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị H. Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: 0002413 ngày 29/4/2022 của Chi cục thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hữu - Đại"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HNGĐ-ST
Ngày 14 tháng 7 năm 2022
“V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn và bà Nguyễn Thị Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 57/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu: Khu 7, thôn Long Ân, xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).

- Bị đơn: Ngô Văn Đ, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu: thôn Đá Đen, xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện đang chấp hành án tại: Đội 3, K3, Trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an; địa chỉ: Xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 13/4/2022 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Ngô Văn Đ ngày 18/6/2021, đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn chị và anh Đ được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng anh Đ và gia đình anh Đại tại xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc ngay được thời giam ngắn chị ở thị xã Phú Thọ còn anh Đại ở xã Quang Yên. Quá trình vợ chồng chung sống không được hòa thuận, được thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ chơi bời, không quan tâm đến chị, chị và người thân trong gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không đươc. Tháng 8 năm 2021 anh Đại vi phạm pháp luật nên bị xử phạt tù, hiện nay đang phải đi chấp hành án tại: Đội 3, K3, Trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.

Bị đơn anh Ngô Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm như chị H trình bày là đúng. Nay chị H xin ly hôn anh trong đơn xin xét xử vắng mặt anh cho rằng xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý được ly hôn với chị H.

Về con chung: Chị H và anh Đ xác nhận vợ chồng không có con chung, chị H cũng không mang thai với anh Đ.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị H, anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng: Quá trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ Thẩm phán đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt có lý do. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô không có yêu cầu hay kiến nghị gì.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị H, xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị H, anh Đ không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thảm chị H phải chịu theo quy dịnh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Trần Thị H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh Ngô Văn Đ có đăng ký hộ khẩu tại thôn Đá Đen, xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ, tỉnh Sơn La. Anh Đ có đơn lựa chọn, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sông Lô giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, chị H có mặt, anh Đ vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt là đúng quy định. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.

. Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Ngô Văn Đ là cuộc hôn nhân hợp pháp, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống được thời gian ngắn do anh Đ chơi bời không quan tâm gì đến gia đình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn và đến tháng 8 năm 2021, anh Đ vi phạm pháp luật và hiện nay đang phải chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ, tỉnh Sơn La, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị H xin ly hôn. Anh Đ đồng ý được ly hôn với chị H. Xét việc chị H và anh Đ thuận tình ly hôn là có căn cứ phụ hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: chị Hữu và anh Đại không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị H. Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.

Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: 0002413 ngày 29/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Chị H đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú của người vắng mặt./.

Cỡ chữ