- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L-T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự T hành
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/3/2022 Về việc “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Khảnh;
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 30/3/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 06/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 11a/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Mỹ L – Sinh năm: 1996;
Nơi cư trú: Khu phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T – Sinh năm: 1985;
Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
NỘI LONG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải bà L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) H, huyện (nay là thị xã) Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 23/9/2019 (Số 137).
Sau khi kết hôn, bà L, ông T chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian, đến khoảng tháng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, ông T bỏ mặc không quan tâm bà L, gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải để vợ chồng hòa thuận nhưng không thành. Từ năm 2020 đến nay cả hai không còn sống chung, không ai quan tâm đến ai. Nay bà L nhận thấy tình cảm đã hết, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên xin được ly hôn ông T.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không lý do nên không T hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L; về con chung: không có nên không xét; về tài sản không yêu cầu nên không xét. Về án phí: Nguyên đơn bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng các điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự T hành xét xử vắng mặt bà L, ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà L, ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) H, huyện (nay là thị xã) Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 23/9/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà L, ông T có mâu thuẫn do không hợp tính và thường xuyên cãi vã, ông T bỏ mặc không quan tâm bà L. Sự việc kéo dài đến năm 2020, cả hai đã tự sống xa nhau, không ai còn quan tâm đến ai; quá trình giải quyết vụ án ông T đã thể hiện sự bỏ mặc, không hợp tác để Tòa vận động, hòa giải. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà L, ông T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L: Bà Ngô Thị Mỹ L được ly hôn với ông Trần Văn T.
[3] Về con chung: Không có, nên không xét.
[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
[5] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà L phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Mỹ L được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp tại phiếu thu số 0001753 ngày 11/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên nên đã nộp đủ.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên; - VKSND thị xã Đông Hòa; - Chi cục THADS thị xã Đông Hoà; - UBND phường H; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Hồng |